Thủ tục rút gọn là một trong những thủ tục đặc biệt trong tố tụng hình sự, được xây dựng với mục tiêu rút ngắn thời gian giải quyết vụ án thông qua việc lược giản một số giai đoạn và trình tự tố tụng không thực sự cần thiết trong điều kiện vụ án có tính chất đơn giản, chứng cứ rõ ràng.
Việc áp dụng thủ tục rút gọn không làm thay đổi bản chất, tính chất, mục đích của việc giải quyết vụ án hình sự. Thủ tục rút gọn được xây dựng với mục đích rút ngắn thời gian tố tụng, giảm thiểu chi phí và công sức của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời góp phần khắc phục tình trạng tồn đọng án, bảo đảm việc đưa người phạm tội ra xét xử kịp thời.
Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng thủ tục rút gọn, vẫn phải tuyệt đối tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, như nguyên tắc suy đoán vô tội, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, cũng như yêu cầu khách quan, toàn diện trong điều tra, truy tố và xét xử, nhằm tránh bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội.
Khi vụ án hình sự có các điều kiện sau đây thì cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý vụ án ở giai đoạn tố tụng tương ứng có quyền ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn:
+ Thủ tục rút gọn được áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm khi có đủ các điều kiện:
(i) Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang hoặc người đó tự thú;
(ii) Sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ rõ ràng;
(iii) Tội phạm đã thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng;
(iv) Người phạm tội có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng.
+ Thủ tục rút gọn được áp dụng trong xét xử phúc thẩm khi có một trong các điều kiện:
(i) Vụ án đã được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo;
(ii) Vụ án chưa được áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử sơ thẩm nhưng có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 456 (như điều kiện ở giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm) và chỉ có kháng cáo, kháng nghị giảm nhẹ hình phạt hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.
Thủ tục rút gọn không được áp dụng nếu vụ án được giải quyết ở thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và thủ tục xem xét quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quy trình ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn đối với vụ án hình sự
Căn cứ Điều 457 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định quy trình ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn đối với vụ án hình sự như sau:
(i) Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi vụ án có đủ điều kiện quy định tại Điều 456 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn.
Thủ tục rút gọn được áp dụng kể từ khi ra quyết định cho đến khi kết thúc việc xét xử phúc thẩm, trừ trường hợp bị hủy bỏ theo quy định tại Điều 458 của Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015.
(ii) Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn được giao cho bị can, bị cáo hoặc người đại diện của họ, gửi cho người bào chữa trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra, Tòa án được gửi cho Viện kiểm sát có thẩm quyền trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định.
(iii) Trường hợp xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Cơ quan điều tra không đúng pháp luật thì trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được quyết định, Viện kiểm sát phải ra quyết định hủy bỏ quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và gửi cho Cơ quan điều tra.
(iv) Trường hợp xét thấy quyết định áp dụng thủ tục rút gọn của Tòa án không đúng pháp luật thì Viện kiểm sát kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định. Chánh án Tòa án phải xem xét, trả lời trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được kiến nghị của Viện kiểm sát.
(v) Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn có thể bị khiếu nại. Bị can, bị cáo hoặc người đại diện của họ có quyền khiếu nại quyết định áp dụng thủ tục rút gọn; thời hiệu khiếu nại là 05 ngày kể từ ngày nhận được quyết định.
Khiếu nại được gửi đến Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra quyết định áp dụng thủ tục rút gọn và phải được giải quyết trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.
