Nguyên tắc suy đoán vô tội là nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 khẳng định việc người bị buộc tội được bảo đảm trong suốt các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự luôn được mặc nhiên suy đoán là không có tội cho đến khi được kết luận có tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật.
Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013 ghi nhận về Nguyên tắc suy đoán vô tội được như sau: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Điều 13 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã cụ thể hoá quy định của Hiến pháp 2013 như sau:
Điều 13. Suy đoán vô tội
Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.
Như vậy, chủ thể có quyền được suy đoán vô tội là người bị buộc tội, bao gồm người bị người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015).
Nội dung của nguyên tắc Suy đoán vô tội:
(i) Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi tội của họ được chứng minh theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
(ii) Việc chứng minh tội phạm của người bị buộc tội là trách nhiệm của Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội. Họ có quyền từ chối đưa ra những lời khai có thể không có lợi cho mình (quyền im lặng).
(iii) Việc chứng minh tội phạm của người bị buộc tội phải đúng thẩm quyền và tuân theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định. Việc chứng minh tội phạm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự trải qua các trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và theo những thời hạn nhất định.
(iv) Trường hợp không đủ căn cứ để buộc tội hoặc không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội và kết tội theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội là không có tội và phải trả tự do cho họ, đồng thời phải ra quyết định đình chỉ điều tra (trong giai đoạn điều tra), đình chỉ vụ án (trong giai đoạn truy tố hoặc xét xử) hoặc tuyên bố bị cáo vô tội (tại phiên tòa xét xử của Tòa án).
(v) Mọi nghi ngờ về tính xác thực của những chứng cứ dùng để chứng minh sự thật vụ án, nếu không thể làm sáng tỏ theo trình tự luật định, mặc dù cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã áp dụng các biện pháp cần thiết theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, thì phải được áp dụng pháp luật theo hướng có lợi cho người bị buộc tội.
Mục đích, ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội: Do trách nhiệm chứng minh vụ án hình sự thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cho nên đến khi các cơ quan này chưa chứng minh được người bị buộc tội là có tội thì họ phải mặc nhiên xác định người bị buộc tội là vô tội. Quy định này bảo vệ kịp thời người bị oan, đồng thời nâng cao hiệu quả và trách nhiệm chứng minh của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
