Trong tố tụng hình sự, quyền được bào chữa là một trong những nguyên tắc cơ bản, bảo đảm cho người bị buộc tội có cơ hội bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, không phải lúc nào người bị buộc tội cũng có thể tự mời hoặc lựa chọn luật sư. Trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật quy định bắt buộc phải chỉ định người bào chữa nhằm bảo đảm tính công bằng, khách quan và bảo vệ tối đa quyền con người trong quá trình tố tụng.
Căn cứ Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về chỉ định người bào chữa như sau:
Điều 76. Chỉ định người bào chữa
1. Trong các trường hợp sau đây nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa cho họ:
a) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
b) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.
2. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị các tổ chức sau đây cử người bào chữa cho các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này:
a) Đoàn luật sư phân công tổ chức hành nghề luật sư cử người bào chữa;
b) Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được trợ giúp pháp lý;
c) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cử bào chữa viên nhân dân bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức mình.
Theo đó, chỉ định người bào chữa là hoạt động tố tụng hình sự do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu hoặc đề nghị Đoàn luật sư, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên cử người bào chữa thực hiện việc bào chữa cho người bị buộc tội trong những trường hợp luật định.
Người bào chữa được chỉ định là người do Đoàn luật sư, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên lựa chọn và cử ra để bảo vệ cho người bị buộc tội, có thể là Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý, Bào chữa viên nhân dân.
Việc chỉ định người bào chữa diễn ra khi người bị buộc tội thuộc ít nhất một trong những trường hợp sau đây nhưng bản thân họ hoặc người thân thích của họ không nhờ người bào chữa:
(i) Bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm tù, tù chung thân, tử hình;
(ii) Người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất mà không thể tự bào chữa; người có nhược điểm về tâm thần hoặc là người dưới 18 tuổi.
Tuy nhiên, trong các trường hợp được chỉ định trên, người bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa theo khoản 3 Điều 77 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
Điều 77. Thay đổi hoặc từ chối người bào chữa
…
3. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này, người bị buộc tội và người đại diện hoặc người thân thích của họ vẫn có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.
Trường hợp thay đổi người bào chữa thì việc chỉ định người bào chữa khác được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 76 của Bộ luật này.
Trường hợp từ chối người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng lập biên bản về việc từ chối người bào chữa của người bị buộc tội hoặc người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này và chấm dứt việc chỉ định người bào chữa.
Việc chỉ định người bào chữa xuất phát từ mục đích nhân đạo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bởi vì, khi một người bị buộc vào những tội danh với tính chất và mức độ đặc biệt nghiêm trọng hoặc người bị buộc tội là dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về thể chất mà không thể tự mình bào chữa, người có nhược điểm về tâm thần mà không có người bào chữa thì khả năng tự bảo vệ mình trước sự buộc tội của cơ quan có thẩm quyền trong nhiều trường hợp gần như không khả thi trên thực tế, do họ không có hiểu biết hoặc không có kiến thức pháp lý cơ bản đủ để bảo vệ bản thân.
Vì vậy, việc chỉ định người bào chữa cho họ trong những trường hợp tạo điều kiện thuận lợi để họ có được sự bảo vệ cơ bản về pháp lý tương xứng với sự buộc tội. Bên cạnh đó, trên thực tế trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót.
Trong trường hợp đó, việc có đối trọng là bên bào chữa thực hiện những hoạt động tố tụng đối kháng nhằm chống lại sự buộc tội sẽ là cơ sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phát hiện và khắc phục những sai lầm của mình, để bảo đảm việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, bảo vệ kịp thời quyền lợi của người tham gia tố tụng mà trên hết là quyền lợi của người bị buộc tội, đặc biệt trong bối cảnh nếu người bị buộc tội bị oan.
