Người bị kết án là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm và đã có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Bản án kết tội của Tòa án là căn cứ làm phát sinh tư cách tố tụng của người bị kết án. Theo đó, bản án kết tội bao gồm bản án sơ thẩm và bản án phúc thẩm.
Bản án kết tội có thể đã có hiệu lực hoặc chưa có hiệu lực, vì vậy tư cách tố tụng của người bị kết án chỉ phát sinh khi bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Khi bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật thì người bị kết tội được coi là người bị kết án. Người bị kết án có nghĩa vụ chấp hành hình phạt theo quyết định của bản án kết án đối với mình.
Nguyên tắc Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm
Căn cứ Điều 14 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về nguyên tắc Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm như sau:
Điều 14. Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm
Không được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với người mà hành vi của họ đã có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp họ thực hiện hành vi nguy hiểm khác cho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm.
Nguyên tắc Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm thể hiện rõ nét tính nhân quyền trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và tư pháp hình sự nói riêng. Nguyên tắc này thể hiện được tính nhân đạo, công bằng của pháp luật Việt Nam đối với tất cả các chủ thể phạm tội.
Người phạm tội phải gánh chịu mức hình phạt cho những hành vi vi phạm pháp luật hình sự do chính họ gây nên. Do đó, trong trường hợp bản án đã có hiệu lực thì không phải chịu thêm bất cứ một quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hình sự về tội phạm đó.
Điều này nhằm hạn chế xảy ra oan sai đối với người bị buộc tội. Nguyên tắc Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm được đề ra như một giải pháp nhìn nhận rõ ràng, đầy đủ và toàn diện về các quyền năng pháp lý của chủ thể bị trói buộc trong quá trình tham gia tố tụng hình sự trước khi quy kết sai sót những người không phạm tội phải gánh chịu hình phạt pháp lý.
Tuy nhiên, hạn chế của nguyên tắc này là có lợi cho người bị buộc tội và bất lợi cho phía cơ quan điều tra, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng vì khó có thể điều chỉnh, sửa chữa sai sót trong quá trình định tội, điều tra dẫn đến việc bỏ sót hoặc kết án chưa đúng với khung hình phạt đối với hành vi vi phạm của người phạm tội dẫn đến quyết định trong bản án của Tòa án không đảm bảo tính thuyết phục và tính công bằng trong lượng hình phạt đối với người phạm tội.
