Tùy vào từng giai đoạn tố tụng thì có những tên gọi khác nhau đối với những người bị buộc tội nói chung và họ sẽ có những quyền và nghĩa vụ khác nhau tại mỗi giai đoạn này theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Thi hành án hình sự.
Người bị buộc tội là chủ thể tham gia tố tụng bao gồm các cá nhân hoặc pháp nhân thương mại bị cơ quan có thẩm quyền nghi ngờ hoặc xác định đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về người bị buộc tội như sau:
đ) Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Theo đó, người bị buộc tội gồm:
(i) Người bị bắt trong các trường hợp bắt người theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Cụ thể gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ (khoản 2 Điều 109 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015);
(ii) Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ (khoản 1 Điều 59 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015);
(iii) Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. (khoản 1 Điều 60 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015);
(iv) Bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. (khoản 1 Điều 61 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015).
Lưu ý: Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chưa phải là người bị buộc tội.
Người bị buộc tội có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại. Cụ thể, cá nhân bị buộc tội có thể mang các tư cách tố tụng như người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Đối với pháp nhân thương mại bị buộc tội, tư cách tố tụng chỉ bao gồm bị can, bị cáo. Bởi lẽ, tư cách tố tụng của người bị bắt và người bị tạm giữ được hình thành do việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người và tạm giữ người là các cá nhân cụ thể, nên các biện pháp này không thể áp dụng đối với pháp nhân.
Tư cách tố tụng của người bị buộc tội phát sinh kể từ khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc bị khởi tố bị can hoặc khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tư cách tố tụng chấm dứt ở các thời điểm sau: khi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn đối với họ; khi có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án đối với họ; khi họ được tuyên vô tội; khi họ bị kết án và bản án có hiệu lực pháp luật.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về nguyên tắc suy đoán vô tội thì người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
