Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Dấu hiệu tội phạm là những gì thể hiện ra bên ngoài mà căn cứ vào đó, chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong giai đoạn khởi tố cho rằng có tội phạm đã được thực hiện.
Đặc điểm của dấu hiệu tội phạm
(i) Dấu hiệu tội phạm phải thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan (Ví dụ: vết máu trên hiện trường; số tiền bị rút ra khỏi tài khoản một cách bất hợp pháp; hiện tượng ô nhiễm môi trường ở mức độ nhất định; tình trạng tổn hại sức khỏe, tinh thần của một người,…).
Những gì không tồn tại ở bên ngoài thế giới khách quan mà tồn tại trong ý chí của con người thì không thể được xem là dấu hiệu tội phạm (Ví dụ: suy nghĩ về việc lập kế hoạch trộm cắp; mong muốn thực hiện hành vi cố ý gây thương tích; những gì thuộc về giả thiết, tưởng tượng, suy đoán,…).
(ii) Dấu hiệu tội phạm phải là kết quả của việc kiểm tra, xác minh của chủ thể có thẩm quyền. Dấu hiệu tội phạm là căn cứ để quyết định việc khởi tố vụ án hình sự, nếu xác định sai dấu hiệu tội phạm hoặc kết luận sai những gì là dấu hiệu tội phạm hoặc không phải là dấu hiệu tội phạm sẽ dẫn đến sai lầm trong việc ra quyết định khởi tố, dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm hoặc làm cho quá trình tố tụng tiếp theo bị sai lệch theo.
Vì vậy, việc xác định các dấu hiệu thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan đó có phải là dấu hiệu tội phạm hay không yêu cầu người xác định phải là người có kiến thức chuyên môn về pháp lý hình sự thuộc các cơ quan có thẩm quyền. Những người này trên cơ sở kiến thức khoa học và pháp lý về hình sự sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh các dấu hiệu theo quy định của pháp luật và kết luận các dấu hiệu đó có phải là dấu hiệu tội phạm hay không, làm căn cứ cho việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.
(iii) Dấu hiệu tội phạm thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: dấu vết hình sự (vết xe gây tai nạn, vết đạn bắn, vết máu, dấu vết cậy phá…), âm thanh, hình ảnh, trạng thái tinh thần, sức khỏe của một người… liên quan tới sự việc khả năng là tội phạm.
(iv) Dấu hiệu tội phạm không giống nhau ở từng nhóm tội, từng tội: Do bị ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố hành vi, nên dấu hiệu tội phạm trong những trường hợp cụ thể thường khác nhau.
Ví dụ, những gì thể hiện ra bên ngoài của nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe sẽ rất khác với những gì thể hiện ra bên ngoài của nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính. Tội giết người trong trạng thái tinh thần kích động mạnh cũng thể hiện dấu hiệu tội phạm khác việc tội giết người có tính toán, âm mưu tỉ mỉ…
(v) Dấu hiệu tội phạm không đồng nghĩa với tội phạm: Việc có dấu hiệu tội phạm thể hiện trên thực tế đôi khi không phải là tội phạm.
Ví dụ: Hiện trường vụ án một người bị giết bằng thủ đoạn dã man sẽ thể hiện dấu hiệu tội phạm rất rõ ràng, căn cứ vào đó cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án giết người (chưa xác định được nghi phạm). Nhưng nếu trong giai đoạn điều tra xác định được người thực hiện hành vi là người bệnh tâm thần hoặc người dưới 14 tuổi thì trong trường hợp này sẽ không có tội phạm về mặt pháp lý. Như vậy, dấu hiệu tội phạm rất rõ ràng nhưng sự kiện đã xảy ra không phải là vụ án hình sự theo đó sẽ không có tội phạm.
Bên cạnh đó, về lý thuyết, một người chỉ bị coi là có tội khi đã có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử thì người bị buộc tội được suy đoán vô tội nên vẫn chưa phải là tội phạm và vẫn có khả năng người này được tuyên vô tội. Chính vì thế, việc cơ quan có thẩm quyền kết luận trên thực tế sự việc đã xảy ra có dấu hiệu tội phạm thì cũng không thể khẳng định sự kiện đó là tội phạm.
Chủ thể có thẩm quyền xác định việc có hay không có dấu hiệu tội phạm là Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử.
Việc xác định dấu hiệu tội phạm được thực hiện trong giai đoạn khởi tố, đây là tiền đề cho việc xác định có hay không có vụ án hình sự đã xảy ra, vụ án hình sự nếu đã xảy ra thì sẽ được giải quyết hay không. Nói cách khác, giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử phải làm rõ toàn bộ sự thật của vụ án để có thể giải quyết vụ án chính xác. Trong khi đó, giai đoạn khởi tố chỉ cần xác định có dấu hiệu tội phạm để khai sinh ra vụ án hình sự.
