Bộ Tài chính đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế Thu nhập cá nhân 2025, bên cạnh việc quy định chi tiết nhiều khoản miễn thuế thu nhập cá nhân, người lao động được đề xuất hưởng khá nhiều khoản hỗ trợ làm giảm nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân phải nộp.
Theo đó, dưới đây là thông tin tổng hợp chi tiết những thay đổi về chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN) từ 01/07/2026 theo đề xuất tại dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế TNCN 2025 cụ thể như sau:
1. Bổ sung 5 khoản thu nhập được miễn thuế TNCN
Bộ Tài chính đề xuất bổ sung 5 khoản thu nhập được miễn thuế TNCN từ năm 2026 gồm:
(i) Thu nhập từ tiền lương, tiền công từ thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo;
(ii) Thu nhập từ quyền tác giả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ khi được thương mại hóa;
(iii) Thu nhập của nhà đầu tư, chuyên gia, sáng lập viên trong hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo;
(iv) Thu nhập từ tiền lương, tiền công của nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao (miễn thuế 05 năm);
(v) Thu nhập từ tiền lương, tiền công của nhân lực công nghệ cao thực hiện nghiên cứu, phát triển công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược (miễn thuế 5 năm).
Ngoài ra, theo Điều 41, Điều 42 dự thảo, Bộ Tài chính cũng đề xuất miễn thuế TNCN cho cá nhân là nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao, nhân lực công nghệ cao trong thời hạn 05 năm với thu nhập từ tiền lương, tiền công trong một số trường hợp:
(i) Với nhân lực công nghiệp công nghệ số chất lượng cao: Thu nhập từ dự án hoạt động công nghiệp công nghệ số trong khu công nghệ số tập trung; thu nhập từ dự án nghiên cứu và phát triển, sản xuất sản phẩm công nghệ số trọng điểm, chip bán dẫn, hệ thống trí tuệ nhân tạo và thu nhập từ các hoạt động đào tạo nhân lực công nghiệp công nghệ số.
(ii) Với nhân lực công nghệ cao: Thu nhập từ thực hiện hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao thuộc Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển; thu nhập từ hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chiến lược thuộc Danh mục công nghệ chiến lược, Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược.
2. Nâng ngưỡng thu nhập vãng lai khấu trừ thuế TNCN
Theo khoản 2 Điều 50 dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025, đã nâng ngưỡng thu nhập vãng lai khấu trừ thuế TNCN cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng.
Cụ thể, nếu mức thu nhập từ 03 triệu đồng/lần trở lên thì phải thực hiện khấu trừ thuế thu nhập cá nhân; khai thuế thay; nộp thuế thay cho cá nhân với mức 10% trên thu nhập trước khi chi trả. Đề xuất này đã tăng 01 triệu đồng/lần so với mức hiện hành là 02 triệu đồng/lần, theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Theo đó, nếu dự thảo Nghị định này được thông qua thì từ 01/7/2026, cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng mà mức thu nhập vãng lai từ 3 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập đó phải khấu trừ thuế, khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.
3. Thay đổi quy định về thu nhập từ tiền lương, tiền công
(i) Đề xuất nâng trần mức tính giảm trừ với khoản đóng quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung, hưu trí tự nguyện
Luật Thuế TNCN quy định cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công được trừ trước khi tính thuế đối với các khoản đóng góp tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ không vượt quá mức do Chính phủ quy định.
Theo quy định tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP, mức đóng góp vào Quỹ hưu trí tự nguyện, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện được trừ ra khỏi thu nhập khi xác định thu nhập tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân tối đa không quá 1 triệu đồng/tháng, gồm cả số tiền do người sử dụng lao động đóng hộ người lao động và cả số tiền do người lao động tự đóng (nếu có).
Trường hợp người sử dụng lao động mua bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm khác có tích lũy về phí bảo hiểm cho người lao động thì chưa phải tính vào thu nhập chịu thuế tại thời điểm mua bảo hiểm, đến thời điểm đáo hạn hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm khấu trừ tiền thuế theo tỷ lệ 10% trên khoản tiền phí tích lũy tương ứng với phần người sử dụng lao động mua cho người lao động.
Để phù hợp với tình hình kinh tế xã hội và biến động của các chỉ số kinh tế vĩ mô trong thời gian qua và dự kiến thời gian tới, Dự thảo Nghị định điều chỉnh tăng mức khống chế khoản đóng góp tham gia quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung, mua bảo hiểm hưu trí tự nguyện, bảo hiểm nhân thọ cho người lao động từ 1 triệu đồng/tháng lên 3 triệu đồng/tháng, tương đồng với mức tăng chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khoản đóng góp của doanh nghiệp cho người lao động tại Nghị định số 320/2025/NĐ-CP.
Điều này giúp giảm nghĩa vụ thuế cho người lao động, đồng thời khuyến khích người dân tham gia vào các sản phẩm bảo hiểm, phát triển hệ thống an sinh xã hội, giúp người dân có được sự bảo vệ tốt hơn trước các rủi ro có thể phát sinh.
(ii) Đề xuất nâng mức miễn thuế TNCN đối với tiền ăn lên 1,2 triệu đồng/tháng
Theo điểm g khoản 2 Điều 8 Dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, thu nhập từ tiền lương, tiền công bao gồm toàn bộ các khoản mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, dưới hình thức tiền hoặc không bằng tiền.
Trong đó, khoản tiền ăn giữa ca, ăn trưa được xác định cụ thể là một khoản lợi ích thuộc phạm vi xem xét tính thuế.
Dự thảo quy định rõ trường hợp người sử dụng lao động chi tiền ăn giữa ca, ăn trưa cho người lao động, thì chỉ phần chi vượt quá 1,2 triệu đồng/người lao động/tháng mới phải tính vào thu nhập chịu thuế TNCN.
Đồng nghĩa, phần chi trong phạm vi 1,2 triệu đồng/tháng được loại trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Trước đây, khoản 4 Điều 22 Thông tư 26/2016/TT-BLĐTBXH quy định mức khống chế tiền chỉ bửa ăn giữa ca cho người lao động tối đa không vượt quá 730.000 đồng/người/tháng. Tuy nhiên, sau đó không còn được đề cập nữa do nội dung này đã bị bãi bỏ bởi Thông tư số 003/2025/TT-BNV ngày 28/4/2025.
(iii) Khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc không tính vào thu nhập chịu thuế
Bên cạnh đó, để hỗ trợ người lao động trong trường hợp thôi việc, mất việc, Luật Thuế TNCN 2025 đã sửa đổi, bổ sung quy định không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN các khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc (kể cả trường hợp được hỗ trợ cao hơn mức quy định tại Bộ luật Lao động 2019).
Để quy định chi tiết nội dung này, đảm bảo quyền lợi của người nộp thuế, thể hiện sự chia sẻ của Nhà nước với người lao động trong trường hợp thôi việc, mất việc, dự thảo Nghị định bổ sung quy định trường hợp doanh nghiệp có quy định cụ thể tại nội quy, quy chế, thỏa ước lao động tập thể hoặc hợp đồng lao động về mức trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cao hơn quy định của Bộ luật Lao động thì phần vượt mức này cũng không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN của cá nhân. Qua đó, góp phần giảm nghĩa vụ thuế cho người lao động khi nhận được khoản hỗ trợ này.
4. Quy định chi tiết thu nhập tính thuế TNCN với thu nhập khác
Điều 16 dự thảo đã bổ sung quy định chi tiết các khoản thu nhập khác tại khoản 10 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.
Trong đó, bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng tên miền quốc gia Việt Nam “.vn”, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon và chuyển nhượng biển số xe trúng đấu giá.
Thuế TNCN trong các trường hợp này được xác định bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất 5%, trong đó thu nhập tính thuế là phần vượt trên 20 triệu đồng/lần phát sinh (theo Điều 19 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025).
5. Bổ sung trường hợp con trên 18 tuổi được giảm trừ gia cảnh
Trước đây, khoản 3 Điều 12 Nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) từ 18 tuổi trở lên được giảm trừ gia cảnh khi “bị khuyết tật không có khả năng lao động”.
Tuy nhiên tại điểm b khoản 2 Điều 47 dự thảo Nghị định mới, Bộ Tài chính đề xuất 03 trường hợp con (bao gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp, con riêng của vợ, con riêng của chồng) từ 18 tuổi trở lên được giảm trừ gia cảnh gồm:
– Người bị khuyết tật;
– Người không có khả năng lao động;
– Người mất năng lực hành vi dân sự được giảm trừ gia cảnh.
