Theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 (có hiệu lực từ 1/7/2026) các khoản phụ cấp không tính thuế TNCN 2026 bao gồm trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm.
Hiện nay tại điểm b khoản 2 Điều 2 Thông tư 111/2013/TT-BTC (sửa đổi bởi khoản 1 Điều 11 Thông tư 92/2015/TT-BTC) quy định trường hợp người lao động được khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc theo đúng mức quy định thì không tính vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế thu nhập cá nhân. Còn nếu khoản tiền trợ cấp thôi việc nhận được cao hơn mức quy định Bộ luật Lao động 2019 thì phần vượt quá sẽ phải chịu thuế TNCN.
Ví dụ, nếu bạn làm việc 10 năm và nhận trợ cấp 6 tháng lương thay vì mức tối đa 2 tháng, thì 4 tháng lương thừa sẽ phải khấu trừ thuế. Việc xác định trợ cấp thôi việc có tính thuế TNCN không đòi hỏi phải kiểm tra kỹ hợp đồng lao động và các thỏa thuận riêng, vì một số trường hợp đặc biệt như sa thải không do lỗi của người lao động có thể có quy định riêng.
Khoản trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc không tính thuế thu nhập cá nhân (kể cả trường hợp được hỗ trợ cao hơn mức quy định tại Bộ luật Lao động)
Căn cứ khoản 3 Điều 8 dự thảo Nghị định quy định như sau:
Thu nhập từ tiền lương, tiền công
3. Các khoản phụ cấp, trợ cấp, thu nhập khác, trừ các khoản sau:
….
h) Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, trợ cấp tuất hàng tháng, và các khoản trợ cấp khác theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội;
i) Trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật;
Trường hợp doanh nghiệp có quy định cụ thể tại quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ hoặc hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động về mức trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cao hơn mức quy định của pháp luật về lao động thì phần chi trả thực tế vượt mức này cũng không tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
