Oan trong tố tụng hình sự là việc một người trên thực tế không thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, không cấu thành tội phạm nhưng đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn, bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
1. Người bị oan trong vụ án hình sự
Người bị oan là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại không thực hiện một hoặc một số hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm nhưng đã bị chủ thể có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi đó.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cá nhân bị oan có thể mang các tư cách tố tụng như người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án. Pháp nhân thương mại bị oan có thể có tư cách của bị can, bị cáo và pháp nhân bị kết án.
Cá nhân, pháp nhân thương mại đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong những trường hợp sau đây là chủ thể bị oan:
(i) Cá nhân, pháp nhân thương mại không thực hiện một hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm;
(ii) Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng không chứng minh được những chủ thể này đã thực hiện tội phạm hoặc việc giải quyết vụ án hình sự đối với họ đã thuộc trường hợp hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
(iii) Họ đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự với nhiều tội danh hơn số lượng tội danh mà họ đã phạm trên thực tế (trong trường hợp này, họ bị oan đối với tội danh mà họ đã bị truy cứu nhưng không phạm).
2. Căn cứ để xác định người bị oan
Kể từ khi cơ quan có thẩm quyền thể hiện sự xác nhận của họ về những trường hợp như trên thì khi đó các chủ thể trên được xem là người bị oan.
Sự xác nhận này được thể hiện thành văn bản (bản án, quyết định) của chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tuy nhiên trên thực tế, vẫn có trường hợp, người bị oan nhưng không có văn bản xác nhận của cơ quan quan có thẩm quyền nên họ không thể thực hiện các quyền như đòi bồi thường thiệt hại, phục hồi danh dự…
3. Xác định người bị oan trong tố tụng hình sự
Đối với cá nhân, các trường hợp được xác định bị oan bao gồm:
(i) Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp mà không có căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
(ii) Người bị bắt, người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự quyết định trả tự do, hủy bỏ quyết định tạm giữ, không phê chuẩn lệnh bắt, quyết định gia hạn tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật;
(iii) Người bị tạm giam mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;
(iv) Người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm;
(v) Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù mà có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm;
(vi) Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt chung sau khi tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;
(vii) Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và hình phạt chung sau khi tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành;
(viii) Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Tòa án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành;
Đối với pháp nhân thương mại, trường hợp được xác định bị oan là: Pháp nhân thương mại bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của pháp nhân không cấu thành tội phạm hoặc đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được pháp nhân đã thực hiện tội phạm và pháp nhân đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
