Luận tội là văn bản thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát trong việc bảo vệ cáo trạng truy tố do Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước phát biểu tại phiên tòa hình sự.
Căn cứ Điều 321 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về luận tội của Kiểm sát viên như sau:
Điều 321. Luận tội của Kiểm sát viên
1. Luận tội của Kiểm sát viên phải căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu, đồ vật đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
2. Nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
3. Đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; đề nghị mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng.
4. Kiến nghị các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật.
Theo đó, luận tội là hoạt động tố tụng hình sự mở đầu thủ tục tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự do Kiểm sát viên thay mặt Viện kiểm sát tiến hành khẳng định việc buộc tội của Viện kiểm sát đối với tội danh và bị cáo với mức hình phạt cụ thể, làm căn cứ cho việc tranh luận và ra bản án hoặc các quyết định của Tòa án tại phiên tòa.
Hoạt động luận tội tại phiên tòa được thực hiện bởi Kiểm sát viên (người đại diện cho Viện kiểm sát tại phiên tòa) tiến hành tại thời điểm bắt đầu vào hoạt động tranh luận và ngay sau hoạt động xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm.
Hoạt động luận tội của Kiểm sát viên nhằm để bảo vệ bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố) của Viện kiểm sát đã được đưa ra trước đó trong giai đoạn truy tố, hoặc để điều chỉnh nội dung cáo buộc của bản cáo trạng theo hướng mới căn cứ vào tình hình diễn biến tại phiên tòa mà Kiểm sát viên chịu trách nhiệm.
Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa có thể giống hoặc khác với quan điểm buộc tội trong bản cáo trạng. Trong trường hợp các nội dung mà Viện kiểm sát tiếp cận được trong quá trình chuẩn bị xét xử và qua giai đoạn xét hỏi, nếu không khác với quan điểm của Viện kiểm sát trong bản cáo trạng thì lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa cơ bản sẽ giữ nguyên quan điểm buộc tội của Viện kiểm sát trong bản cáo trạng.
Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, trong trường hợp có sự thay đổi so với bản cáo trạng thì sự buộc tội trong lời luận tội phải nhẹ hơn hoặc bằng, hoặc chỉ buộc tội một phần so với sự buộc tội trong bản cáo trạng theo nguyên tác lời luận tội không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo.
Không phải phiên tòa nào diễn ra cũng có phần lời luận tội của Kiểm sát viên. Trong trường hợp nếu xét thấy thuộc những trường hợp luật định, Hội đồng xét xử (hoặc Thẩm phán được phân công xét xử theo thủ tục rút gọn) ra quyết định hoãn phiên tòa hoặc tạm ngừng phiên tòa, hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong những trường hợp này, phiên tòa có thể sẽ ngừng lại trước khi Kiểm sát viên luận tội.
Ngoài ra, trong trường hợp Kiểm sát viên xét thấy việc tiếp tục truy cứu là không còn cần thiết nữa thì Kiểm sát viên có thể rút toàn bộ quyết định truy tố tại phiên tòa. Khi đó, Hội đồng xét xử (hoặc Thẩm phán được phân công xét xử theo thủ tục rút gọn) sẽ vẫn tiếp tục xét xử nhưng không có việc luận tội của Kiểm sát viên.
