Biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự mang tính quyền lực nhà nước, tác động trực tiếp đến quyền tự do đi lại của con người, do chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với cá nhân đã bị khởi tố về hình sự có nơi cư trú rõ ràng trong những trường hợp luật định nhằm giới hạn quyền đi lại, không cho phép họ tự do rời khỏi nơi cư trú, thông qua đó bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, góp phần thuận lợi cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
Căn cứ Điều 123 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về cấm đi khỏi nơi cư trú như sau:
Điều 123. Cấm đi khỏi nơi cư trú
1. Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú, lý lịch rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.
2. Bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện các nghĩa vụ:
a) Không đi khỏi nơi cư trú nếu không được cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho phép;
b) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
c) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
d) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan quy định tại khoản này thì bị tạm giam.
3. Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 của Bộ luật này, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Đồn trưởng Đồn biên phòng có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
4. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú không quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
5. Người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đơn vị quân đội đó để quản lý, theo dõi họ.
Trường hợp bị can, bị cáo vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc đơn vị quân đội quản lý họ và phải có giấy cho phép của người đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
6. Nếu bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan thì chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú, đơn vị quân đội đang quản lý bị can, bị cáo phải báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú biết để xử lý theo thẩm quyền.
Theo đó, biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được áp dụng đối với mọi loại tội phạm; người được áp dụng biện pháp này phải có có nơi cư trú và lý lịch rõ ràng, phải làm giấy cam đoan, phải có mặt đúng thời gian, địa điểm ghi trong giấy triệu tập.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thì bị can, bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú phải làm giấy cam đoan thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ sau:
(i) Không đi khỏi nơi cư trú nếu không được cơ quan đã ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho phép;
(ii) Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
(iii) Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
(iv) Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Trong trường hợp nếu bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ cam đoan nêu trên thì họ sẽ bị tạm giam.
Thẩm quyền áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú: Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định thẩm quyền này thuộc về các chủ thể:
(i) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;
(ii) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
(iii) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; và Hội đồng xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa;
(iv) Thẩm phán chủ tọa phiên họp xem xét yêu cầu dẫn độ (đối với vụ án có người bị xem xét yêu cầu dẫn độ hoặc bị dẫn độ);
(v) Đồn trưởng đồn biên phòng trong giai đoạn điều tra.
Giai đoạn tố tụng có thể áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú: có thể áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử khi có căn cứ luật định.
Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú: được xác định theo thời hạn điều tra, truy tố, xét xử. Trên thực tế các lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, cơ quan tiến hành tố tụng thường xác định thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đến khi kết thúc thời hạn điều tra hoặc đến khi kết thúc thời hạn truy tố.
(i) Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú tại giai đoạn điều tra do Cơ quan điều tra quyết định nhưng không được quá thời hạn điều tra;
(ii) Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú tại giai đoạn truy tố do Viện kiểm sát quyết định nhưng không được quá thời hạn truy tố;
(iii) Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú tại giai đoạn xét xử do Toà án quyết định nhưng không được quá thời hạn xét xử, nếu người bị kết án bị phạt tù thì thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với họ không được quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
Khác với các biện pháp tạm giữ, tạm giam, biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú có điểm khác biệt là không cách ly bị can, bị cáo khỏi gia đình, xã hội và họ vẫn được tiếp tục làm việc, nhưng đổi lại họ bị hạn chế quyền tự do cư trú và đi lại của mình trong một thời hạn nhất định.
Mục đích của các biện pháp ngăn chặn nói chung và biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nói riêng nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
