Người chứng kiến trong tố tụng hình sự không phải là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án nhưng lại là người tham dự, chứng kiến và xác nhận hoạt động của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Căn cứ Điều 67 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về người chứng kiến như sau:
Điều 67. Người chứng kiến
1. Người chứng kiến là người được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này.
2. Những người sau đây không được làm người chứng kiến:
a) Người thân thích của người bị buộc tội, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức đúng sự việc;
c) Người dưới 18 tuổi;
d) Có lý do khác cho thấy người đó không khách quan.
3. Người chứng kiến có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tuân thủ quy định của pháp luật, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
c) Xem biên bản tố tụng, đưa ra nhận xét về hoạt động tố tụng mà mình chứng kiến;
d) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc mình tham gia chứng kiến;
đ) Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí theo quy định của pháp luật.
4. Người chứng kiến có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Chứng kiến đầy đủ hoạt động tố tụng được yêu cầu;
c) Ký biên bản về hoạt động mà mình chứng kiến;
d) Giữ bí mật về hoạt động điều tra mà mình chứng kiến;
đ) Trình bày trung thực những tình tiết mà mình chứng kiến theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Theo đó, người chứng kiến trong tố tụng hình sự là cá nhân tham gia tố tụng được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu có mặt để quan sát trực tiếp các hoạt động tố tụng mà pháp luật tố tụng hình sự quy định bắt buộc phải có người chứng kiến để bảo đảm tính chính xác, khách quan của hoạt động tố tụng.
Người chứng kiến là cá nhân tham gia tố tụng vì nghĩa vụ pháp lý. Người chứng kiến tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự với vai trò góp phần bảo đảm tính chính xác, khách quan của hoạt động tố tụng. Do vậy, người chứng kiến phải bảo đảm sự khách quan khi chứng kiến hoạt động tố tụng.
Các trường hợp không được trở thành người chứng kiến:
(i) Người thân thích của người bị buộc tội, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
(ii) Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức đúng sự việc;
(iii) Người dưới 18 tuổi;
(iv) Có lý do khác cho thấy người đó không khách quan.
Quy định này nhằm loại trừ những trường hợp do quan hệ tình cảm cá nhân, do hạn chế về năng lực nhận thức, năng lực hành vi, độ tuổi… mà không thể xác nhận, chứng kiến được hành vi, hoạt động tố tụng diễn ra. Do đó, Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định, những người thuộc diện trên không được làm người chứng kiến, không có ngoại lệ.
Tư cách tố tụng của người chứng kiến hình thành do yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để chứng kiến hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tư cách của người chứng kiến sẽ tồn tại cho đến khi giải quyết xong vụ án.
Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 bổ sung người chứng kiến là người tham gia tố tụng. Khi thực hiện các hoạt động tố tụng, bắt buộc cơ quan có thẩm quyền phải mời một số người không liên quan đến vụ án tham dự, chứng kiến và xác nhận về nội dung, trình tự tiến hành, thành phần tham gia… nhằm đảm bảo cho hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện khách quan.
