(KHDLaw.vn) – Dữ liệu từ các hệ thống camera của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân được chia sẻ theo cơ chế thỏa thuận, kết nối đến trung tâm camera giám sát công an cấp xã. Thí điểm tại Hà Nội, đặc khu Phú Quốc, Gia Lai từ 1/4/2026.
Hiểu đúng về việc kết nối camera của người dân với công an cấp xã
Thời gian gần đây, trên các nền tảng mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin liên quan đến việc chia sẻ dữ liệu camera. Tuy nhiên, một số nội dung chưa chính xác, chưa đầy đủ, dẫn đến việc người dân hiểu nhầm rằng đây là nghĩa vụ bắt buộc hoặc có thể ảnh hưởng đến quyền riêng tư cá nhân.
Bên cạnh đó, một số đối tượng đã lợi dụng vấn đề này để xuyên tạc, gây hoang mang dư luận. Do đó, cần làm rõ các quy định liên quan để bảo đảm người dân hiểu đúng và đầy đủ về quy định này.
Dữ liệu camera của tổ chức, cá nhân được chia sẻ với công an xã theo cơ chế thỏa thuận
Dữ liệu từ camera của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có thể được chia sẻ và kết nối vào hệ thống camera giám sát công an cấp xã nếu chủ sở hữu đồng ý, theo cơ chế thỏa thuận, tự nguyện.
Nội dung được nêu trong Quyết định 502/QĐ-TTg (Quyết định) ban hành ngày 28/3 – phê duyệt phương án kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống camera giám sát an ninh, trật tự, xử lý vi phạm và điều hành giao thông với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đồng thời kết nối với Trung tâm giám sát, điều hành đô thị thông minh.
Theo quy định tại Mục II Phương án ban hành kèm theo Quyết định, việc kết nối và khai thác dữ liệu từ hệ thống camera của người dân, doanh nghiệp được thực hiện “theo cơ chế thỏa thuận, trên nguyên tắc tự nguyện, đúng mục đích, bảo đảm an toàn thông tin và tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân”.
Nội dung này được cụ thể hóa tại điểm c khoản 3 Mục III Phương án. Theo đó, dữ liệu từ hệ thống camera của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn được chia sẻ thông qua các điểm tập trung kết nối đến Trung tâm camera giám sát công an cấp xã.
Việc chia sẻ dữ liệu camera được thực hiện theo Điều 18 Luật Dữ liệu và các văn bản pháp luật có liên quan; cơ quan công an tiếp nhận có trách nhiệm bảo vệ dữ liệu theo quy định của Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định liên quan.
Điều 18. Cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước
1. Khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cung cấp dữ liệu thuộc quyền sở hữu cho cơ quan nhà nước.
2. Tổ chức, cá nhân phải cung cấp dữ liệu cho cơ quan nhà nước khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền mà không cần chủ thể dữ liệu đồng ý trong các trường hợp sau đây:
a) Ứng phó với tình trạng khẩn cấp;
b) Khi có nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp;
c) Thảm họa;
d) Phòng, chống bạo loạn, khủng bố.
3. Cơ quan nhà nước nhận được dữ liệu có trách nhiệm sau đây:
a) Sử dụng dữ liệu đúng mục đích;
b) Bảo đảm an ninh, an toàn dữ liệu, bảo vệ dữ liệu, lợi ích hợp pháp khác của chủ thể dữ liệu, tổ chức, cá nhân cung cấp dữ liệu theo quy định của pháp luật;
c) Hủy dữ liệu ngay khi dữ liệu đó không còn cần thiết cho mục đích đã yêu cầu và thông báo cho chủ thể dữ liệu, tổ chức, cá nhân đã cung cấp dữ liệu;
d) Thông báo việc lưu trữ, sử dụng dữ liệu khi có yêu cầu của tổ chức, cá nhân cung cấp dữ liệu, trừ trường hợp bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác.
4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Theo Phương án kèm theo Quyết định, việc kết nối dữ liệu từ camera của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân nhằm hình thành hệ thống tích hợp, khai thác dữ liệu hình ảnh, metadata và sự kiện, bảo đảm truyền dẫn, lưu trữ an toàn và chia sẻ có kiểm soát.
Hệ thống này đồng thời tăng khả năng giám sát theo thời gian thực, giúp phát hiện, cảnh báo và xử lý kịp thời các tình huống liên quan đến an ninh trật tự, giao thông, phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ.
Dữ liệu camera cũng được tích hợp có kiểm soát với dữ liệu dân cư để phục vụ xác minh, xử lý vi phạm và quản lý nhà nước, đồng thời hỗ trợ phát triển đô thị thông minh.
Lộ trình thực hiện
(i) Giai đoạn 1 (chuẩn bị và triển khai mô hình điểm) kéo dài từ ngày 1/4/2026 đến 30/9/2026.
Thời gian này sẽ triển khai mô hình điểm tại Hà Nội, tỉnh Gia Lai và tỉnh An Giang (đặc khu Phú Quốc).
Mục tiêu nhằm xây dựng mô hình mẫu, làm cơ sở đánh giá, hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và phương thức tổ chức thực hiện trên toàn quốc.
(ii) Giai đoạn 2 (triển khai thực hiện phương án) kéo dài từ ngày 1/10/2026 đến 31/12/2027.
Cơ quan chức năng sẽ triển khai phương án tích hợp các hệ thống camera giám sát an ninh, trật tự, xử lý vi phạm và điều hành giao thông, kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, chia sẻ dữ liệu với trung tâm giám sát, điều hành đô thị thông minh phục vụ quản lý nhà nước về bảo đảm an ninh trật tự và phát triển kinh tế – xã hội tại tất cả 34 tỉnh, thành phố.
(iii) Giai đoạn 3 (mở rộng xã hội hóa) kéo dài từ ngày 1/1/2028.
Từ thời điểm trên, mở rộng kết nối các hệ thống camera được đầu tư theo hình thức xã hội hóa, bao gồm camera của tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, hộ dân cư, vào hệ thống giám sát của địa phương theo cơ chế thỏa thuận, bảo đảm tuân thủ quy định về an ninh, an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu cá nhân.
Không phải camera nào cũng áp dụng
Không phải tất cả các loại camera đều thuộc diện được kết nối vào hệ thống giám sát chung. Phạm vi áp dụng chủ yếu hướng đến các camera lắp đặt có phạm vi quan sát ra các khu vực công cộng như các tuyến đường, hẻm, khu dân cư, khu thương mại hoặc khu vực kinh doanh,…những nơi có ý nghĩa trong việc đảm bảo an ninh trật tự và quản lý xã hội, không nhằm can thiệp vào không gian riêng tư.
Do đó, các camera nằm trong không gian riêng tư như bên trong nhà ở hoặc khu vực sinh hoạt cá nhân không nằm trong đối tượng áp dụng, giúp phân định rõ ranh giới giữa nhu cầu quản lý và quyền riêng tư của người dân.
