Tranh luận tại phiên tòa hình sự là hoạt động tố tụng tại phiên tòa giữa các chủ thể có quyền và lợi ích đối lập nhau hoặc giữa các chủ thể bảo vệ họ thực hiện thông qua việc sử dụng lý lẽ, chứng cứ và các căn cứ pháp lý nhằm bảo vệ quan điểm, quyền và lợi ích của mình hoặc của chủ thể mà mình bảo vệ và chống lại quan điểm của các chủ thể có quyền và lợi ích đối kháng.
Căn cứ Điều 320 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về trình tự phát biểu khi tranh luận như sau:
Điều 320. Trình tự phát biểu khi tranh luận
1. Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày luận tội; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo không có tội.
2. Bị cáo trình bày lời bào chữa; người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo; bị cáo, người đại diện của bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa.
3. Bị hại, đương sự, người đại diện của họ trình bày ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình; nếu có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ thì người này có quyền trình bày, bổ sung ý kiến.
4. Trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại thì bị hại hoặc người đại diện của họ trình bày, bổ sung ý kiến sau khi Kiểm sát viên trình bày luận tội.
Theo đó, các chủ thể thực hiện tranh luận tại phiên tòa là những chủ thể có quyền và lợi ích đối lập nhau trong vụ án hình sự, hoặc các chủ thể bảo vệ cho những người này. Các chủ thể không có quyền và lợi ích trong vụ án hoặc các chủ thể có quyền và lợi ích nhưng các quyền và lợi ích này không mâu thuẫn nhau thì sẽ không có sự tranh luận lẫn nhau. Cụ thể, các chủ thể có quyền tranh luận tại phiên tòa bao gồm:
(i) Kiểm sát viên;
(ii) Bị cáo và người bào chữa cho bị cáo;
(iii) Bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những người này.
* Lưu ý: Hội đồng xét xử (hoặc Thẩm phán được phân công xét xử theo thủ tục rút gọn) là chủ thể điều hành hoạt động tranh luận và lắng nghe tranh luận để có căn cứ ra bản án, quyết định. Họ không có chức năng tranh luận với những người được nêu trên.
Tranh luận tại phiên tòa hình sự được tiến hành theo trình tự sau:
(i) Kiểm sát viên trình bày bản luận tội;
(ii) Bị cáo, người bào chữa trình bày ý kiến của mình về bản luận tội của Kiểm sát viên;
(iii) Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày ý kiến của mình về vụ án;
(iv) Kiểm sát viên đối đáp với bị cáo, người bào chữa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
(v) Bị cáo, người bào chữa đối đáp với Kiểm sát viên.
Điều 322. Tranh luận tại phiên tòa
1. Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận của mình để đối đáp với Kiểm sát viên về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt; trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra đề nghị của mình.
2. Kiểm sát viên phải đưa ra chứng cứ, tài liệu và lập luận để đối đáp đến cùng từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác.
3. Chủ toạ phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến nhưng có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại.
Chủ tọa phiên tòa yêu cầu Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến của người bào chữa, người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận.
4. Hội đồng xét xử phải lắng nghe, ghi nhận đầy đủ ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người tham gia tranh luận tại phiên tòa để đánh giá khách quan, toàn diện sự thật của vụ án. Trường hợp không chấp nhận ý kiến của những người tham gia phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải nêu rõ lý do và được ghi trong bản án.
Thời gian tranh luận tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự là không bị hạn chế, Chủ toạ phiên tòa phải tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, người tham gia tố tụng khác tranh luận, trình bày hết ý kiến. Tuy nhiên, Chủ tọa phiên tòa có quyền cắt những ý kiến không liên quan đến vụ án và ý kiến lặp lại.
Việc tranh luận tại phiên tòa là điều kiện để các bên có quyền và lợi ích đối lập nhau được công khai đưa ra các quan điểm, lý lẽ, chứng cứ và các căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân mình hoặc của chủ thể mà mình bảo vệ một cách dân chủ, bình đẳng.
Nhờ hoạt động tranh luận tại phiên tòa, các bên trong vụ án có điều kiện thể hiện toàn bộ quan điểm, ý chí của mình và có quyền đưa ra các quan điểm bình đẳng, công khai với các bên còn lại một cách văn minh về những nội dung mà trong các giai đoạn tố tụng trước đây, vì nhiều lý do có thể họ không thể hoặc không có điều kiện bày tỏ.
Thông qua hoạt động tranh luận, Hội đồng xét xử có căn cứ làm rõ thêm quan điểm của các bên và sự thật về vụ án. Từ đó sẽ có căn cứ để đưa ra quyết định hoặc bản án phù hợp với sự thật khách quan về vụ án.
