Tội thao túng thị trường chứng khoán theo quy định pháp luật

Thị trường chứng khoán phát triển dẫn đến việc nhiều cá nhân, tổ chức lợi dụng để thực hiện những hành vi trái pháp luật, trong đó có hành vi thao túng thị trường chứng khoán.

Điều 211 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS 2015) quy định về tội thao túng thị trường chứng khoán. Điều luật gồm 4 khoản bao gồm:

  1. Khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý của tội phạm và khung hình phạt cơ bản;
  2. Khoản 2 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng;
  3. Khoản 3 quy định khung hình phạt bộ sung đối với người phạm tội;
  4. Khoản 4 quy định khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.

Dấu hiệu pháp lý

Căn cứ khoản 1 của điều luật, tội thao túng thị trường chứng khoán có các dấu hiệu pháp lý sau:

  1. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 BLHS là người từ đủ 16 tuổi trở lên vì tội này không thuộc các tội mà tuổi chịu trách nhiệm hình sự có thể từ đủ 14 tuổi trở lên được liệt kê tại khoản 2 Điều 12 BLHS.

  1. Hành vi khách quan của tội phạm

Điều luật quy định hành vi khách quan của tội phạm là hành vi thao túng thị trường chứng khoán. Các thủ đoạn thực hiện để thao túng thị trường chứng khoán có thể là:

  • Sử dụng một hoặc nhiều tài khoản giao dịch của mình hoặc của người khác hoặc thông đồng với nhau liên tục mua, bán chứng k nhằm tạo ra cung, cầu giả tạo;
  • Thông đồng với người khác đặt lệnh mua và bán cùng loại chứng khoán trong cùng ngày giao dịch hoặc thông đồng với nhau dịch mua bán chứng khoán mà không dẫn đến chuyển nhượng thực sự quyền sở hữu hoặc quyền sở hữu chỉ luân chuyển giữa các thành vi trong nhóm nhằm tạo giá chứng khoán, cung cầu giả tạo;
  • Liên tục mua hoặc bán chứng khoán với khối lượng chi phối vào thời điểm mở cửa hoặc đóng cửa thị trường nhằm tạo ra mức giá đóng cửa hoặc giá mở cửa mới cho loại chứng khoán đó trên thị trường;
  • Cấu kết, lôi kéo người khác liên tục đặt lệnh mua, bán chứng khoán gây ảnh hưởng lớn đến cung cầu và giá chứng khoán, thao túng giá chứng khoán;
  • Đưa ra ý kiến một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua phương tiện thông tin đại chúng về một loại chứng khoán, về tổ chức phát hành chứng khoán nhằm tạo ảnh hưởng đến giá của loại chứng khoán đó sau khi đã thực hiện giao dịch và nắm giữ vị thế đối với loại chứng khoán đó;
  • Các thủ đoạn khác có thể tạo cung cầu giả tạo…

Các thủ đoạn trên được thực hiện có thể làm cho các nhà đầu tư khác hiểu sai lệch về thị trường chứng khoán và có quyết định có lợi cho chủ thể thực hiện các thủ đoạn này.

Hành vi thao túng thị trường chứng khoán bị coi là tội phạm nếu thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau:

  • Thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên;
  • Gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 01 tỷ đồng trở lên.
  1. Lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý đối với hành vi thao túng thị trường chứng khoán.

Khung hình phạt

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 02 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng là phạt tiền từ 02 tỷ đồng đến 04 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

  • Có tổ chức

Đây là trường hợp đồng phạm thao túng thị trường chứng khoán mà trong đó có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm.

  • Thu lợi bất chính 1,5 tỷ đồng trở lên

Đây là trường hợp phạm tội mà người phạm tội đã thu về khoản lợi bất chính 1,5 tỷ đồng trở lên.

  • Gây thiệt hại cho nhà đầu tư 03 tỷ đồng trở lên

Đây là trường hợp phạm tội mà người phạm tội đã gây ra thiệt hại cho nhà đầu tư 03 tỷ đồng trở lên.

  • Tái phạm nguy hiểm

Đây là trường hợp phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu của tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 53 BLHS.

Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể áp dụng đối với người phạm tội) là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 250 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:

  • Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 02 tỷ đồng đến 05 tỷ đồng;
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 2 của điều luật thì khi hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 05 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng;
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 70. BLHS thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

Pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 02 tỷ đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm./.