Tội cướp tài sản

Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS 2015) quy định về tội cướp tài sản. Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu.

Điều luật bao gồm 6 khoản, trong đó:

  • Khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội cướp tài sản;
  • Khoản 2,3,4 quy định trường hợp phạm tội tăng nặng;
  • Khoản 5 quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội;
  • Khoản 6 quy định hình phạt bổ sung.

Dấu hiệu pháp lý tội cướp tài sản

  1. Chủ thể của tội phạm

Là chủ thể thường, theo Điều 12 BLHS 2015 là người từ đủ 14 tuổi trở lên.

  1. Hành vi khách quan của tội phạm

Điều luật quy định 3 dạng hành vi khách quan của tôi phạm gồm:

  • Hành vi dùng vũ lực;
  • Hành vi đe doạ dùng vữ lực ngay tức khắc;
  • Hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được.

Hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi dùng sức mạnh, có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội, tác động vào người khác để họ không thể hoặc không dám chống cự lại việc chiếm đoạt. Ví dụ hành vi dùng vũ lực như đánh, chém, đâm, trói…

Lưu ý, hành vi dùng vũ lực này phải là hành vi nhằm vào con người. Những hành vi không nhằm vào con người đều không phải là hành vi dùng vũ lực theo quy định của điều luật.

Người bị hành vi dùng vũ lực tác động có thể là chủ tài sản, là người có trách nhiệm quản lý hay bảo vệ tài sản nhưng cũng có thể là người bất kỳ mà chủ thể thực hiện hành vi dùng vũ lực cho rằng người này đang hoặc có khả năng sẽ ngăn cản việc chiếm đoạt của mình.

Hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc được hiểu là hành vi bằng lời nói hoặc bằng cử chỉ, hoặc cả hai, doạ sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc nếu chống cự lại việc chiếm đoạt.

Vũ lực đe dọa sẽ thực hiện có thể nhằm vào chính người bị đe dọa nhưng cũng có thể nhằm vào người có quan hệ thân thích với người bị đe dọa.

Dấu hiệu “ngay tức khắc” ở đây có ý nghĩa quan trọng để phân biệt hành vi đe dọa dùng vũ lực ở tội cướp với hành vi đe dọa “sẽ” dùng vũ lực ở tội cưỡng đoạt tài sản.

Dấu hiệu này vừa dùng để chỉ sự nhanh chóng về mặt thời gian (xảy ra ngay lập tức) và vừa dùng để chỉ sự mãnh liệt của hành vi đe doạ.

Hành vi đe dọa dùng vũ lực ở tội cướp tài sản có tính chất mãnh liệt nhằm làm cho người bị đe dọa thấy rằng vũ lực sẽ xảy ra ngay, họ không hoặc khó có điều kiện tránh khỏi. Sự đe dọa này có khả năng làm tê liệt ý chí của người bị đe dọa.

Để đánh giá hành vi đe dọa dùng vũ lực có tính chất như vậy hay không và qua đó khẳng định có phải là tội cướp tài sản hay không, cần dựa vào những tình tiết sau:

  • Nội dung và hình thức của hành vi đe dọa (dọa làm gì? thái độ đe dọa như thế nào?);
  • Tương quan giữa bên đe dọa và bên bị đe dọa;
  • Hoàn cảnh không gian và thời gian;
  • Tình hình trật tự xã hội nơi và lúc xảy ra hành vi phạm tội vv..

Dấu hiệu ngay tức khắc chỉ đòi hỏi chủ thể đã có hành vi, cử chỉ, thái độ thể hiện ra bên ngoài là dùng vũ lực ngay tức khắc mà không đòi hỏi chủ thể phải thực sự có ý định dùng vũ lực ngay tức khắc cũng như phải có đủ điều kiện để dùng vũ lực ngay tức khắc.

Như vậy, những trường hợp chỉ làm ra vẻ dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng không có ý định hoặc không có điều kiện dùng vũ lực ngay tức khắc cũng đã thỏa mãn dấu hiệu ngay tức khắc” của tội cướp tài sản. Ví dụ: Dùng súng giả dọa bắn chết ngay..

Hành vi (khác) làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi có khả năng làm cho người bị tấn công không thể ngăn cản được việc chiếm đoạt như hành vi sử dụng thuốc gây mê, thuốc ngủ

Những hành vi này được coi cùng tính chất như hành vi dùng vũ lực và hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc vì cùng có khả năng làm cho người bị tấn công không thể cản được việc chiếm đoạt.

  1. Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Cả ba dạng hành vi khách quan được nêu trên đều thể hiện lỗi của chủ thể thực hiện là lỗi cố ý. Khi thực hiện, chủ thể đều biết rõ tính chất của hành vi mà mình thực hiện.

  1. Dấu hiệu mục đích phạm tội

Mục đích phạm tội được quy định là mục đích chiếm đoạt tài sản. Khi thực hiện hành vi dùng vũ lực; đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể kháng cự được, chủ thể thực hiện có mục đích chiếm đoạt tài sản.

Trong thực tế, có thể có trường hợp chủ thể đã chiếm đoạt được tài sản bằng thủ đoạn không phải là thủ đoạn của tội cướp tài sản như bằng thủ đoạn của tội trộm cắp tài sản hoặc của tội cướp giật tài sản… nhưng ngay sau đó đã bị phát hiện và người phạm tội đã tấn công lại người ngăn cản (bằng những thủ đoạn của tội cướp) nhằm giữ bằng được tài sản vừa chiếm đoạt trước đó.

Mục đích giữ bằng được tài sản vừa chiếm đoạt được xét về bản chất là để có thể tiếp tục việc chiếm đoạt. Do vậy, mục đích này cũng được coi là dạng đặc biệt của mục đích chiếm đoạt tài sản và thực tiễn xét xử từ trước đến nay coi trường hợp này là trường hợp chuyển hoá từ một số hình thức chiếm đoạt tài sản thành cướp tài sản.

Như vậy, những hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hay hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm mục đích giữ tài sản vừa chiếm đoạt được cũng bị coi là cấu thành tội cướp tài sản.

Do “chiếm đoạt” chỉ được quy định là mục đích nên việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành của tội cướp tài sản chỉ phụ thuộc vào việc chủ thể đã thực hiện một trong ba dạng hành vi được mô tả trong điều luật như trình bày trên mà không phụ thuộc vào việc chủ thể đã thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản hay chưa.

Khung hình phạt

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất có mức phạt tù từ 07 năm đến 15 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

  • Có tổ chức: Đây là trường hợp cướp tài sản được thực hiện dưới hình thức đồng phạm đồng phạm mà trong đó có sự cầu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm.
  • Có tính chất chuyên nghiệp: Đây là trường hợp người phạm tội đã liên tiếp phạm tội cướp tài sản và coi việc phạm tội này như là nguồn thu nhập chính.
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%: Đây là trường hợp người phạm tội cướp tài sản đã cố ý hoặc vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người bị tấn công với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên nhưng dưới mức 31% (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật).
  • Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản mà chủ thể đã sử dụng vũ khí hoặc phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm.

Trong đó, vũ khí được hiểu là vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ (dao găm, kiếm, giáo, mác, thương, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu), vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự (được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất tương tự như vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao).

Phương tiện, thủ đoạn phạm tội được coi là phương tiện, thủ đoạn nguy hiểm khi có tính chất như tính chất của vũ khí nói trên, nghĩa là có khả năng dễ dàng gây nguy hiểm đến tính mạng người bị tấn công. Ví dụ: Dùng thuốc độc để đầu độc…

  • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản mà tài sản chiếm đoạt trị giá từ 50 triệu đồng trở lên nhưng phải dưới mức 200 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ hai được quy định tại khoản 3 của điều luật).
  • Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản mà nạn nhân bị tấn công là đối tượng đặc biệt và tính đặc biệt này làm tăng tính nguy hiểm của hành vi phạm tội. Ở đây, điều luật chỉ quy định rõ lỗi cố ý (“biết”) đối với đối tượng phụ nữ có thai.
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản đã góp phân gây ra tâm lý trong dân cư về an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
  • Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội cướp tà. thoả mãn các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS.

Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai có mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

  • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản mà tài sản chiếm đoạt trị giá từ 200 triệu đồng trở lên nhưng phải dưới mức 500 triệu đồng (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ ba được quy định tại khoản 4 của điều luật).
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%: Đây là trường hợp người phạm tội cướp tài sản đã cố ý hoặc vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người bị tấn công với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên nhưng phải dưới mức 61% (vì đến mức này sẽ thuộc khung hình phạt tăng nặng thứ ba được quy định tại khoản 4 của điều luật).
  • Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản mà chủ thể đã lợi dụng tình trạng thiên tai hoặc tình trạng dịch bệnh khi thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, lợi dụng thiên tai là lợi dụng tình trạng có “… hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế – xã hội, bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lộc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc đóng chảy, sụt lún ốc lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần…”; lợi dụng dịch bệnh là lợi dụng tình trạng có “… sự xuất hiện bệnh truyền nhiễm với số người mắc bệnh vượt quá số người mắc bệnh dự tính bình thường các khoảng thời gian xác định ở một khu vực nhất định”. Lưu ý, tình trạng này phải được cấp có thẩm quyền công bố (có thể là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Thủ tướng Chính phủ).

Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ ba là phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

  • Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên: Đây là trường hợp phạm tội cướp tài sản mà tài sản chiếm đoạt trị giá từ 500 triệu đồng trở lên.
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên: Đây là trường hợp người phạm tội cướp tài sản đã cố ý hoặc vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người bị tấn công với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc của nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể mỗi người từ 31% trở lên.
  • Làm chết người. Đây là trường hợp người phạm tội cướp tài sản đã gây hậu quả chết người và lỗi của họ đối với hậu quả này là lỗi vô ý. Nếu người phạm tội cố ý gây hậu quả chết người thì hành vi phạm tội không còn thuộc trường hợp này mà cấu thành hai tội (tội giết người và tội cướp tài sản).
  • Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp: Đây là các trường hợp đã lợi dụng tình trạng rất đặc biệt của đất nước hoặc của địa phương để phạm tội. Đó là tình trạng chiến tranh của đất nước tình trạng khẩn cấp trong phạm vi nhất định hay toàn quốc.

Tình trạng chiến tranh được hiểu “… là trạng thái xã hội đặc biệt của đất nước được tuyên bố trong thời gian từ khi nước nhà bị xâm lưa. cho tới khi hành động xâm lược đó được chấm dứt trên thực tế”. Tình trạng này được công bố bởi Chủ tịch nước trên cơ sở Nghị quyết của Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tình trạng khẩn cấp có thể là tình trạng khẩn cấp về thảm họa lớn (trong đó có thiên tai), về dịch bệnh nguy hiểm hoặc về quốc phòng. Tình trạng này được cấp có thẩm quyền ban bố theo trình tự được pháp luật quy định.

Khoản 5 của điều luật quy định khung hình phạt áp dụng cho trường hợp chuẩn bị phạm tội cướp tài sản là phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Đây là trường hợp chủ thể chưa thực hiện hành vi dùng vũ lực, hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhưng đã có hành vi tạo điều kiện cho việc thực hiện hành vi này như chuẩn bị công cụ phạm tội, kế hoạch phạm tội hoặc đã có hành vi lập nhóm hay tham gia nhóm có kế hoạch cướp tài sản.

Quy định này là điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999, thể hiện rõ đường lối xử lý có sự phân hóa trách nhiệm hình sự một cách rõ ràng giữa trường hợp chuẩn bị phạm tội và trường hợp tội phạm hoàn thành ở tội vớp tài sản.

Theo Điều 14 BLHS, người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội cướp tài sản.

Khoản 6 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể được áp dụng) là: Phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản./.