Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán

Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán được quy định tại Điều 209 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS 2015).

Điều luật gồm 4 khoản, trong đó:

  • Khoản 1 quy định các dấu hiệu pháp lý của tội phạm và khung hình phạt cơ bản;
  • Khoản 2 quy định các trường hợp phạm tội tăng nặng;
  • Khoản 3 quy định khung hình phạt bị sung đối với người phạm tội;
  • Khoản 4 quy định khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.

Dấu hiệu pháp lý

Căn cứ khoản 1 của Điều 209 BLHS 2015, tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán có các dấu hiệu pháp lý sau đây:

Dấu hiệu chủ thể của tội phạm

Điều luật không quy định cụ thể về chủ thể của tội này nhưng có thể xác định những người sau có thể là chủ thể:

  • Chủ tịch hội đồng quản trị, hội đồng thành viên hoặc chủ tịch công ty, giám đốc hoặc tổng giám đốc, giám đốc tài chính hoặc kế toán trưởng của tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết, tổ chức đăng ký giao dịch, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán;
  • Người đại diện theo pháp luật của tổ chức tư vấn phát hành, tổ chức bảo lãnh phát hành, tổ chức kiểm toán được chấp thuận, những người trực tiếp thực hiện tư vấn phát hành, niêm yết bảo lãnh phát hành, thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, người được ủy quyền công bố thông tin;
  • Người đại diện theo pháp luật của tổ chức đăng ký, lưu ký

Dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan của tội phạm được quy định là hành vi công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chào niêm yết, giao dịch, hoạt động kinh doanh chứng khoán, tổ chức thị trường, đăng ký, lưu ký, bù trừ hoặc thanh toán chứng khoán.

Như vậy có 2 dạng hành vi khách quan của tội phạm: (1) Hành vi công bố thông tin sai lệch và (2) hành vi che giấu thông tin trong các hoạt động chào bán, niêm yết, giao dịch, hoạt động kinh doanh chứng khoán, tổ chức thị trường, đăng ký, lưu ký, bù trừ hoặc thanh toán chứng khoán.

Hành vi công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin này bị coi là tội phạm nêu thỏa mãn một trong ba dấu hiệu sau:

  • Gây thiệt hại cho nhà đầu tư từ 01 tỷ đồng trở lên;
  • Thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên;
  • Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Dấu hiệu lỗi của chủ thể

Lỗi của chủ thể được quy định là lỗi cố ý đối với hành vi công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin.

Khung hình phạt

Khoản 1 của điều luật quy định khung hình phạt cơ bản là phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Khoản 2 của điều luật quy định khung hình phạt tăng nặng thứ nhất là phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 02 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được áp dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng sau:

  • Có tổ chức: Đây là trường hợp đồng phạm cô ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán mà trong đó có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người đồng phạm;
  • Thu lợi bất chính 01 tỷ đồng trở lên: Đây là trường hợp phạm tội mà người phạm tội đã thu về khoản lợi bất chính là 01 tỷ đồng trở lên;
  • Gây thiệt hại cho nhà đầu tư 03 tỷ đồng trở lên: Đây là trường hợp phạm tội đã gây ra thiệt hại cho nhà đầu tư 03 tỷ đồng trở lên;
  • Tái phạm nguy hiểm: Đây là trường hợp phạm tội thỏa mãn các dấu hiệu của tái phạm nguy hiểm được quy định tại Điều 53 BLHS.

Khoản 3 của điều luật quy định khung hình phạt bổ sung (có thể áp dụng đối với người phạm tội) là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Khoản 4 của điều luật quy định khung hình phạt đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. Cụ thể:

  • Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 02 tỷ đồng;
  • Nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 2 của điều luật thì khung hình phạt cho pháp nhân thương mại có mức phạt tiền từ 02 tỷ đồng đến 05 tỷ đồng;

Pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm./.