Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định cụ thể về các quyền của bị đơn dân sự, đặc biệt là quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật; yêu cầu giám định, định giá tài sản nhằm xác định phần trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mình trong vụ án.
Điều 64 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về bị đơn dân sự như sau:
Điều 64. Bị đơn dân sự
1. Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
2. Bị đơn dân sự hoặc người đại diện của họ có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn dân sự;
c) Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu;
d) Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá;
đ) Yêu cầu giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật;
e) Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án có liên quan đến việc đòi bồi thường thiệt hại;
g) Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật;
h) Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi người tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; xem biên bản phiên tòa;
i) Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
k) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
l) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại;
m) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
3. Bị đơn dân sự có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Trình bày trung thực những tình tiết liên quan đến việc bồi thường thiệt hại;
c) Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Bị đơn dân sự trong tố tụng hình sự là chủ thể tham gia tố tụng bao gồm các cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự do tôi phạm gây ra nhưng không phải là chủ thể bị buộc tội.
Chủ thể: Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra. Chủ thể này tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích về dân sự của bản thân mình (cá nhân, cơ quan, tổ chức) liên quan đến vụ án hình sự.
Bị đơn dân sự có thể tự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình hoặc có thể thực hiện thông qua người đại diện.
Căn cứ phát sinh tư cách tố tụng của bị đơn dân sự: Tư cách tố tụng của bị đơn dân sự được xác định dựa trên cơ sở quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của pháp luật dân sự. Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra có thể do chủ thể thực hiện tội phạm hoặc chủ thể khác chịu trách nhiệm bồi thường.
Tuy nhiên, chủ thể thực hiện tội phạm thường tham gia tố tụng với vai trò chủ thể bị tình nghi, bị buộc tội và trách nhiệm pháp lý của họ đã bao gồm cả trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự (trừ trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên và không có tài sản riêng).
Trong trường hợp đối tượng trực tiếp gây thiệt hại về vật chất cho nguyên đơn dân sự hoặc bị hại là người bị buộc tội đã thành niên thì cơ quan tiến hành tố tụng không cần phải xác định họ là bị đơn dân sự nữa vì theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015: “ Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra; Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại” hay cũng như Bộ luật Dân sự 2015 quy định tại Điều 589 đến Điều 592 thì họ phải bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra (họ vừa là người bị buộc tội và vừa là bị đơn dân sự). Trong trường hợp người có hành vi phạm tội hoặc hành vi gây thiệt hại những không đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự nhưng vụ án hình sự vẫn đưa ra xét xử đối với bị cáo khác thì họ tham gia tố tụng với tư cách bị đơn dân sự.
Hay nói cách khác, trong nhiều trường hợp, tư cách của bị can, bị cáo đã bao trùm cả tư cách của bị đơn dân sự (Ví dụ: người đã thành niên thực hiện hành vi giết người thì người này phải chịu trách nhiệm hình sự là hình phạt, thì đồng thời họ cũng phải tự chịu trách nhiệm dân sự là trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần, vật chất và cả nghĩa vụ cấp dưỡng nếu có cho thân nhân của người đã chết. Trong trường hợp này, họ phải tự chịu trách nhiệm song song trách nhiệm hình sự và cả dân sự). Vì vậy, việc xác định họ thêm tư cách bị đơn dân sự là không cần thiết.
Chính vì lẽ đó, pháp luật tố tụng hình sự quy định tư cách tố tụng của bị đơn dân sự là một tư cách độc lập với tư cách tố tụng của bị can, bị cáo, họ là chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường dân sự đối với những thiệt hại do bị can, bị cáo gây ra.
Ví dụ: pháp nhân phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây thiệt hại khi thi hành công việc nhân danh pháp nhân. Hoặc trường hợp người con chưa thành niên và không có tài sản riêng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm thì cha mẹ của người này sẽ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự do hành vi phạm tội của con mình gây ra. Khi đó, cha mẹ của người này là bị đơn dân sự. Tư cách bị đơn dân sự của cha mẹ không bị nhầm lẫn hay giao thoa với tư cách bị can, bị cáo của người con chưa thành niên.
Thời gian tồn tại tư cách tố tụng của bị đơn dân sự: Tư cách tố tụng của bị đơn dân sự có thể xuất hiện trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc thủ tục xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Tư cách tố tụng của bị đơn dân sự phát sinh vào thời điểm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra thể hiện bằng việc triệu tập bị đơn dân sự để tham gia hoạt động tố tụng. Tư cách tố tụng này sẽ tồn tại đến khi vấn đề dân sự được giải quyết xong hoặc khi kết thúc quá trình giải quyết vụ án hình sự.
