Điều 86 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định: “Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.
Như vậy, có thể thấy những gì được coi là chứng cứ phải là những thứ có thật, có liên quan đến vụ án hình sự và được thu thập theo trình tự thủ tục luật định. Chứng cứ có 03 thuộc tính là tính khách quan, tính liên quan và thu thập hợp pháp. Nếu thiếu một trong các thuộc tính đó thì tài liệu đồ vật đó không được coi là chứng cứ.
Chứng cứ dùng để chứng minh hành vi có tội (để buộc tội), không có tội (gỡ tội) hoặc để chứng minh tính chất, mức độ hành vi, nhân thân và các tình tiết khác của vụ án hình sự.
Thu thập chứng cứ trong vụ án hình sự là hoạt động tố tụng do chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng nhất định thực hiện trong các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử nhằm tìm kiếm, phát hiện, ghi nhận và thu giữ chứng cứ.
Căn cứ Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định, để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án.
Ngoài ra, để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa.
Những người tham gia tố tụng khác, cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử và trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án.
Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật này.
Như vậy, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện nay thì người bào chữa, bị cáo và những người khác đều có quyền thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật và có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật đó cho cơ quan tiến hành tố tụng.
Trong giai đoạn xét xử thì có thể cung cấp cho thẩm phán, cho Tòa án hoặc tại phiên tòa thì giao nộp tại bàn thư ký để Tòa án xem xét. Trong phần tranh tụng các bên sẽ kiểm tra đánh giá chứng cứ và sử dụng chứng cứ để buộc tội hoặc gỡ tội theo chức năng của mình.
Nếu tại phiên tòa xuất hiện các chứng cứ quan trọng mà chưa thể kiểm tra đánh giá được thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Hoạt động thu thập chứng cứ nhằm tìm kiếm, phát hiện, thu giữ các chứng cứ có ý nghĩa đối với việc chứng minh các tình tiết của vụ án hình sự. Hoạt động thu thập chứng cứ là hoạt động pháp lý, tố tụng và nghiệp vụ đầu tiên trong chuỗi các hoạt động của quá trình chứng minh (bao gồm thu thập chứng cứ; kiểm tra, đánh giá chứng cứ; sử dụng chứng cứ).
Hoạt động thu thập chứng cứ kịp thời, chính xác, khách quan và đầy đủ góp phần vô cùng quan trọng trong việc giúp cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án kịp thời, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
