Thụ lý vụ án dân sự là gì?

Thụ lý vụ án dân sự là thủ tục ghi nhận việc Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện và chính thức giải quyết vụ án bằng việc ghi vào sổ thụ lý vụ án dân sự. Kể từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ án đã làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong tố tụng dân sự. Các hoạt động tiếp theo của Toà án được thực hiện theo đúng quy trình tố tụng.

  1. Thủ tục thụ lý vụ án dân sự

Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) quy định chi tiết về thủ tục Thụ lý vụ án dân sự.

Ngay sau khi người khởi kiện nộp (xuất trình) cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì Tòa án ghi vào sổ thụ lý vụ án các thông tin cần thiết về vụ án. Kể từ thời điểm này đã phát sinh vụ án dân sự, đồng thời làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự đối với các chủ thể của vụ án gồm những người tiến hành tốt tụng và những người tham gia tố tụng dân sự.

Về thủ tục điều luật 195 BLTTDS 2015 quy định khá rõ ràng, chặt chẽ tạo cơ sở pháp lý để việc thụ lý vụ án được nhanh chóng, thuận lợi.

Cần lưu ý việc thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phải được thực hiện bằng văn bản trong đó ghi rõ mức tạm ứng án phí phải nộp, thời gian nộp và địa điểm nộp.

Việc thụ lý vụ án dân sự được hướng dẫn tại Điều 10 Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao theo hướng sau đây:

(1) Trong trường hợp người khởi kiện không nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn mười lăm ngày theo quy định của BLTTDS vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hạn nộp tiền tạm ứng án phí.

(2) Tòa án phải ấn định cho người khởi kiện trong thời hạn bảy ngày, sau khi hết thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Hết thời hạn này người khởi kiện mới nộp cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí. Hết thời hạn này người khởi kiện mới nộp cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, thì giải quyết như sau:

  1. Trường hợp chưa trả lại đơn khởi kiện, thì Thẩm phán tiến hành thụ lý vụ án;
  2. Trường hợp đã trả lại đơn khởi kiện mà người khởi kiện chứng minh được là họ đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn quy định, nhưng vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quannên họ nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Toà án không đúng hạn, thì Thẩm phán yêu cầu họ nộp lại đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kèm theo và tiến hành thụ lý vụ án theo thủ tục chung.
  3. Trường hợp sau khi Toà án trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện mới nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí cho Toà án, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quanthì được coi là nộp đơn khởi kiện lại, Thẩm phán yêu cầu họ nộp lại đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ kèm theo và tiến hành thụ lý lại vụ án theo thủ tục chung.

(3) Hết thời hạn được hướng dẫn tại khoản 2 Điều này, người khởi kiện không nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, thì Toà án thông báo cho họ biết về việc không thụ lý vụ án với lý do là họ không nộp tiền tạm ứng án phí.

  1. Thông báo về việc thụ lý vụ án dân sự

Việc thông báo về việc thụ lý vụ án dân sự cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là một thủ tục bắt buộc. Trường hợp giải quyết vụ án dân sự mà không thông báo cho bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì bị coi là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.

Điều 196 BLTTDS 2015 quy định về trình tự thủ tục thông báo về việc thụ lý vụ án dân sự.

Việc thông báo thụ lý vụ án nêu trên là biện pháp pháp lý nhằm công khai, minh bạch việc giải quyết vụ án dân sự, tạo thuận lợi cho bị đơn cũng như những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có sự chuẩn bị trước nội dung tranh tụng khi tham gia tố tụng, trên cơ sở đó tạo thuận lợi cho việc giải quyết vụ án của Tòa án./.