Quy định và thủ tục hoãn chấp hành hình phạt tù

Hoãn chấp hành án phạt tù là việc chuyển thời điểm người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù sang một thời điểm muộn hơn vì những lí do khách quan nhằm thể hiện tính nhân đạo, nhân văn trong việc áp dụng pháp luật, ngoài ra còn hướng đến bảo vệ quyền con người cho người bị kết án và cả người thân của họ. Tuy nhiên, các thủ tục hoãn chấp hành hình phạt tù cần phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật để bảo đảm áp dụng đúng đối tượng, trường hợp.

Có những trường hợp nếu chấp hành án ngay thì sẽ kéo theo hậu quả là họ không thể tiếp tục lao động, chu cấp kinh tế cho gia đình hay nuôi dưỡng con cái, cha mẹ, người thân khác trong suốt thời gian chấp hành án. Tuy nhiên, việc quyết định áp dụng, thi hành chế định hoãn chấp hành án phạt tù cần phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật để bảo đảm áp dụng đúng đối tượng, trường hợp.

Những trường hợp có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù

Điều 67 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người bị xử phạt tù có thể được hoãn chấp hành hình phạt trong các trường hợp sau đây:

  1. Bị bệnh nặng thì được hoãn cho đến khi sức khỏe được hồi phục.

Đối với người bị kết án phạt tù bị bệnh nặng tới mức không thể chấp hành án phạt tù và nếu phải chấp hành án phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ. Người bị bệnh nặng là người mắc một trong các bệnh hiểm nghèo như: Ưng thư giai đoạn cuối, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên hoặc mắc bệnh khác dẫn đến không có khả năng tự phục vụ bản thân, tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao; hoặc người bị nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn lâm sàng IV, đang có nhiễm trùng cơ hội và tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao.

  1. Phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, thì được hoãn cho đến khi con đủ 36 tháng tuổi.
  2. Là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành hình phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt, được hoãn đến 01 năm, trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
  3. Bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ, thì được hoãn đến 01 năm.

Nguyên tắc thi hành án hình sự là tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.

Bảo đảm nhân đạo xã hội chủ nghĩa; tôn trọng danh dự, nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án, người chấp hành biện pháp tư pháp, quyền, lợi ích hợp pháp của pháp nhân thương mại chấp hành án. Kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo trong việc thi hành án; áp dụng biện pháp giáo dục cải tạo phải trên cơ sở tính chất, mức độ phạm tội, độ tuổi, sức khỏe, giới tính, trình độ học vấn và các đặc điểm nhân thân khác của người chấp hành án.

Thẩm quyền ra Quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù

Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 24 Luật Thi hành án hình sự 2019:

Đối với người bị kết án phạt tù đang được tại ngoại, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án có thể tự mình hoặc theo đơn đề nghị của người bị kết án, văn bản đề nghị của Viện Kiểm sát cùng cấp, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án cư trú, cơ quan thi hành án hình sự cấp Quân khu nơi người chấp hành án làm việc hoặc cư trú ra quyết định hoãn chấp hành án phạt tù. Đơn đề nghị hoặc văn bản đề nghị phải được gửi cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án kèm theo các giấy tờ có liên quan.

Người có quyền đề nghị hoãn chấp hành hình phạt tù

Cá nhân, cơ quan sau đây có quyền làm đơn, văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù:

  1. Người bị kết án phạt tù. Trường hợp người bị kết án phạt tù không thể tự mình làm đơn đề nghị thì người thân thích của người bị kết án có thể đề nghị thay.
  2. Viện kiểm sát cùng cấp.
  3. Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nơi người chấp hành án phạt tù cư trú.
  4. Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người chấp hành án phạt tù làm việc hoặc cư trú.

Hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù

Hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù bao gồm các tài liệu sau:

  1. Đơn đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù

Đơn, văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù phải có các nội dung sau:

  • Ngày, tháng, năm làm đơn, văn bản;
  • Tên Tòa án nhận đơn, văn bản;
  • Họ tên, năm sinh, nơi cư trú, làm việc của người chấp hành án phạt tù tại ngoại;
  • Số, ngày, tháng, năm của bản án, tội danh, quyết định hình phạt trong bản án có hiệu lực pháp luật; số, quyết định thi hành án phạt tù;
  • Lý do đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù;
  • Danh mục tài liệu kèm theo đơn, văn bản đề nghị;

Trường họp người bị kết án phạt tù hoặc người thân thích của họ làm đơn yêu cầu thì cuối đơn phải ký tên hoặc điểm chỉ, có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị kết án cư trú; trường hợp cơ quan đề nghị thì cuối văn bản phải do người đại diện hợp pháp của cơ quan ký tên và đóng dấu của cơ quan đó.

  1. Bản sao bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc bản sao  trích lục bản án
  2. Bản sao quyết định thi hành án phạt tù
  3. Các tài liệu cụ thể đối với từng trường hợp:
  • Đối với người bị kết án phạt tù bị bệnh nặng tới mức không thể chấp hành án phạt tù và nếu phải chấp hành án phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ phải có kết luận của Hội đồng giám định y khoa hoặc bản sao bệnh án, kết luận của bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên hoặc có kết luận của tổ chức pháp y công lập về tình trạng bệnh tật của người bị kết án phạt tù. Người bị bệnh nặng là người mắc một trong các bệnh hiểm nghèo như: Ưng thư giai đoạn cuối, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên hoặc mắc bệnh khác dẫn đến không có khả năng tự phục vụ bản thân, tiên lượng xấu, nguy cơ từ vong cao;
  • Đối với người bị kết án phạt tù bị nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn lâm sàng IV thì phải có kết quả xét nghiệm bị nhiễm HIV theo quy định của Bộ Y tế và bản sao bệnh án hoặc kết luận của cơ quan y tế có thẩm quyền khẳng định đã chuyển giai đoạn lâm sàng IV, đang có nhiễm trùng cơ hội và tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao.
  • Đối với người bị kết án phạt tù là phụ nữ có thai phải có kết luận của bệnh viện cấp huyện hoặc tương đương trở lên về việc người bị kết án có thai;
  • Đối với người bị kết án phạt tù là phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi phải có bản sao giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh của con dưới 36 tháng tuổi và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người bị kết án phạt tù đang cư trú về việc họ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi;
  • Đối với người bị kết án phạt tù được đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù vì lý do là lao động duy nhất trong gia đình, nếu phải chấp hành án phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt thì phải có bản tường trình ghi rõ hoàn cảnh khó khăn, công việc, mức thu nhập, nơi làm việc và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ cư trú.
  • Đối với người bị kết án phạt tù được đề nghị hoãn chấp hành án do nhu cầu công vụ thì phải có văn bản hoặc quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc trưng dụng người bị kết án phạt tù cần phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ cụ thể;
  1. Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân, hộ chiếu;
  2. Các tài liệu khác liên quan (nếu có).

Hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù phải được đánh số bút lục và  lưu giữ trong Hồ sơ thi hành án của người được hoãn chấp hành án phạt tù do  Tòa án quản lý.

Thủ tục hoãn chấp hành án phạt tù

  1. Nhận đơn, văn bản đề nghị

Đơn, văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù phải được gửi cho Tòa án đã ra quyết định thi hành án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án, trừ trường họp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Đơn, văn bản đề nghị và các tài liệu kèm theo phải được gửi đến Tòa án đã ra quyết định thi hành án phạt tù bằng các phương thức sau đây:

  • Nộp trực tiếp tại Tòa án;
  • Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;
  • Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

Ngày nhận được đơn hoặc văn bản đề nghị là ngày cơ quan, cá nhân nộp tại Tòa án hoặc ngày Tòa án nhận được do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến. Trường họp cơ quan, cá nhân gửi đơn hoặc văn bản đề nghị qua cổng thông tin điện tử của Tòa án thì ngày nhận được đơn hoặc văn bản là ngày cổng thông tin điện tử của Tòa án xác nhận đã nhận được đơn, văn bản do cơ quan, cá nhân gửi đến.

Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đơn hoặc văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án đã ra quyết định thi hành án phải xem xét, quyết định. Trường hợp không đồng ý hoãn chấp hành án phạt tù thì Chánh án Tòa án phải có văn bản trả lời người có đơn đề nghị hoặc cơ quan có văn bản và thông báo cho Viện Kiểm sát cùng cấp, trong đó nêu rõ lý do không chấp nhận.

  1. Thủ tục xem xét hoãn chấp hành án phạt tù

2.1 Ngay sau khi nhận được đơn, văn bản, tài liệu, hồ sơ đề nghị xem xét  hoãn chấp hành án phạt tù thì Tòa án thông báo bằng văn bản về việc đang xem xét quyết định hoãn chấp hành án phạt tù cho Viện kiểm sát cùng cấp để thực hiện chức năng kiểm sát (nếu Viện kiểm sát không có văn bản đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù); cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để ngừng việc làm thủ tục đưa người chấp hành án phạt tù đi chấp hành án và không thực hiện áp giải thi hành án.

2.2. Chánh án Tòa án tổ chức xem xét, thẩm tra đơn, văn bản đề nghị, tài liệu kèm theo và giải quyết như sau:

  • Trường họp đơn, văn bản đề nghị và tài liệu kèm theo đã đầy đủ theo  quy định này thì xem xét hoãn chấp hành án  phạt tù;
  • Trường họp đơn, văn bản đề nghị và tài liệu chưa đầy đủ theo quy định  thì thông báo bổ sung đơn, văn bản đề nghị và các tài liệu kèm theo. Trường họp này, thời hạn Chánh án phải xem xét quyết định hoãn chấp hành án phạt tù là 07 ngày kể từ ngày nhận được bổ sung đơn, văn bản, tài liệu kèm theo;
  • Trường họp hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù đã đầy đủ nhưng  nếu thấy còn nội dung vướng mắc, chưa rõ thì Chánh án Tòa án phối họp với  Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp để trao đổi, thống nhất trước khi ban hành  quyết định.

2.3. Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị hoãn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án giải quyết như sau:

  • Trường họp không đủ căn cứ hoãn chấp hành án phạt tù thì không ra  quyết định hoãn và có văn bản trả lời trong đó nêu rõ lý do. Văn bản này có thể  bị khiếu nại hoặc kiến nghị theo quy định của Luật Thi hành án hình sự và phải  được gửi cho người có đơn đề nghị hoặc cơ quan có văn bản đề nghị và thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp;
  • Trường họp có đủ căn cứ hoãn chấp hành án phạt tù thì ra Quyết định  hoãn chấp hành án phạt tù.

2.4. Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù có các nội dung sau:

  • Ngày, tháng, năm ra quyết định;
  • Tòa án ra quyết định;
  • Ghi rõ họ tên, chức vụ người ra quyết định;
  • Số, ngày, tháng, năm của Bản án, quyết định được thi hành;
  • Số, ngày, tháng, năm của quyết định thi hành án phạt tù;
  • Họ tên, năm sinh, nơi cư trú của người được hoãn chấp hành phạt tù;
  • Lý do được hoãn chấp hành án phạt tù;
  • Tên cơ quan thi hành án hình sự, Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý người được hoãn chấp hành án phạt tù;
  • Thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù và hiệu lực thi hành.

Trường hợp hoãn chấp hành án phạt tù theo quy định tại các điểm b, c, d  khoản 1 Điều 67 của Bộ luật Hình sự thì cuối quyết định ghi “Hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù thì Quyết định thi hành án số … của Tòa án … được thỉ hành theo quỵ định của Luật Thi hành án hình sự”.

Trường hợp hoãn chấp hành án phạt tù theo quy định tại điểm a khoản 1  Điều 67 của Bộ luật Hình sự thì cuối quyết định ghi “Quyết định thi hành án số … của Tòa án … được thi hành kể từ ngày hết thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù hoặc ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nhận được văn bản của bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện cấp quân khu trở lên hoặc kết luận của tổ chức pháp y công lập hoặc kết luận của Hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh trở lên về tình trạng sức khỏe của người được hoãn chấp hành án phạt tù phục hồi”.

  1. Thời hạn hoãn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày ban hành quyết định
  2. Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù được thi hành kể từ ngày ban hành và có thể bị kháng nghị. Trình tự, thủ tục giải quyết kháng nghị thực hiện theo quy định tại các chương XXII, XXV và XXVI của Bộ luật Tố tụng hình sự
  3. Gửi Quyết định hoãn chấp hành án phạt tù

Sau khi ra quyết định hoãn thi hành án phạt tù, trong thời hạn 03 ngày làm việc Tòa án phải gửi quyết định đó cho cá nhân và các cơ quan sau (quy định tại khoản 3 Điều 24 Luật Thi hành án hình sự năm 2019):

  • Người được hoãn chấp hành án và người đại diện trong trường hợp người được hoãn chấp hành án là người dưới 18 tuổi;
  • Viện kiểm sát cùng cấp;
  • Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện hoặc Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi người được hoãn thi hành án cư trú, làm việc;
  • Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định thi hành án có trụ sở;
  • Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được hoãn chấp hành án là người nước ngoài.

Trường hợp Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến hoãn chấp hành án phạt tù để thực hiện chức năng kiểm sát thì Tòa án sao gửi theo yêu cầu của Viện kiểm sát, trừ trường hợp hoãn chấp hành án phạt tù theo đề nghị của Viện kiểm sát.

Kiểm sát việc hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù

Ngày 31/3/2022, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao ban hành Hướng dẫn  số 23/HD-VKSTC về kiểm sát việc hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Theo đó, kiểm sát việc thi hành quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án được quy định như sau:

  1. VKSND cấp tỉnh có trách nhiệm sao gửi quyết định hoãn, quyết định tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù do Tòa án nhân dân (TAND) cùng cấp ban hành và thông báo bằng văn bản cho VKSND cấp huyện nơi người được tạm đình chỉ chấp hành án cư trú để kiểm sát việc thi hành.

Ngay sau khi nhận được quyết định, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cư trú phải phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên kiểm sát cơ quan thi hành án hình sự Công an cùng cấp trong việc: Tiếp nhận, sao gửi quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù; bàn giao hồ sơ, giao người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù cư trú; triệu tập người được hoãn chấp hành án phạt tù để thông báo quyết định hoãn và yêu cầu cam kết chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, nhất là trường hợp người được hoãn chấp hành án vì lý do bị bệnh nặng đang điều trị bệnh không thể có mặt theo yêu cầu triệu tập.

Khi thực hiện kiểm sát, phải kịp thời phát hiện những trường hợp cố tình vắng mặt, không cam kết, bỏ trốn hoặc có hành vi vi phạm pháp luật trong thời gian được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án để yêu cầu lập hồ sơ, đề nghị Tòa án đã ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ xét hủy quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù.

  1. Chủ động tiến hành rà soát, xác minh hoặc ủy thác xác minh điều kiện hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, nhất là các đối tượng được hoãn chấp hành án phạt tù với lý do bị bệnh nặng, là lao động duy nhất, có thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi…, kịp thời phát hiện những trường hợp điều kiện hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù không còn để tự mình yêu cầu hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án hình sự đề nghị Tòa án đã ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù xem xét hủy quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, cụ thể:
  • Đối với trường hợp người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án vì lý do bệnh nặng, VKSND cấp huyện phải kiểm sát chặt chẽ việc điều trị bệnh của người đó, kịp thời phát hiện trường hợp người được hoãn, tạm đình chỉ vì lý do bệnh nặng nhưng cố tình không chữa bệnh, hoặc đã phục hồi song vẫn lấy lý do về sức khỏe để trốn tránh việc chấp hành án; lợi dụng việc chữa bệnh để đi khỏi nơi cư trú hoặc lợi dụng việc chữa bệnh để vi phạm pháp luật thì có văn bản yêu cầu cơ quan thi hành án hình sự trưng cầu giám định y khoa để xác định tình trạng bệnh của người đó làm cơ sở đưa đi chấp hành án hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để đưa người đó đi chấp hành án.
  • Đối với trường hợp là lao động duy nhất, phải xác định rõ quan hệ gia đình của người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án; tình trạng sức khoẻ, khả năng lao động, nguồn thu nhập của những người mà họ là người duy nhất có trách nhiệm trực tiếp phải nuôi dưỡng; công việc thực tế, thu nhập hợp pháp sau khi được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù… Kịp thời phát hiện trường hợp không phải là lao động duy nhất hoặc sau khi được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án nhưng những người được hoãn, tạm đình chỉ không chịu làm việc để có thu nhập hợp pháp nuôi sống bản thân và gia đình hoặc không thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng…, yêu cầu cơ quan thi hành án hình sự đưa đi chấp hành án hoặc đề nghị Tòa án có thẩm quyền hủy quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để đưa người đó đi chấp hành án.
  • Đối với trường hợp người được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù có dấu hiệu bị mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi, VKSND cấp huyện phải kiểm sát chặt chẽ cơ quan thi hành án hình sự công an cùng cấp về trình tự, thủ tục trưng cầu giám định pháp y tâm thần, nguồn gốc và tính hợp pháp của các tài liệu có trong hồ sơ trưng cầu giám định pháp y tâm thần; kiểm sát căn cứ Tòa án hủy quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù và việc ra quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh; đồng thời báo cáo về VKSND tối cao để quản lý, chỉ đạo.

VKSND cấp huyện kiểm sát chặt chẽ việc đưa người không còn điều kiện hoãn, tạm đình chỉ, người không được chấp nhận hoãn, tạm đình chỉ, người bị Tòa án hủy quyết định hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đi chấp hành án; trường hợp bỏ trốn thì yêu cầu cơ quan thi hành án hình sự cùng cấp báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh ra quyết định truy nã và tổ chức truy bắt./.

5/5 - (1 vote)
0965.67.9698