Truy nã là việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định bằng văn bản công khai lý lịch, hình ảnh, đặc điểm nhận dạng bị can, bị cáo hoặc người chấp hành án trong những trường hợp luật định nhằm truy tìm tung tích và bắt họ, phục vụ cho quá trình giải quyết vụ án hoặc bảo đảm cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Truy nã tội phạm là hoạt động tố tụng hình sự, nghiệp vụ của lực lượng công an nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nhằm phát hiện, tìm kiếm, bắt giữ người có hành vi phạm tội đang lẩn trốn theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án phạt tù hoặc tử hình.
2. Đối tượng bị truy nã
Theo quy định tại Điều 2 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC, các đối tượng sau đây nếu bỏ trốn thì sẽ bị truy nã:
(i) Bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu;
(ii) Người bị kết án trục xuất, người chấp hành án phạt trục xuất bỏ trốn;
(iii) Người bị kết án phạt tù bỏ trốn;
(iv) Người bị kết án tử hình bỏ trốn;
(v) Người đang chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được hoãn chấp hành án bỏ trốn.
3. Điều kiện ra quyết định truy nã
Để đưa ra quyết định truy nã cần phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 4 Thông tư liên tịch 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC:
Cơ quan có thẩm quyền chỉ được ra quyết định truy nã khi có đủ 02 điều kiện sau đây:
(i) Có đủ căn cứ xác định đối tượng bị truy nã đã bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu và đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy bắt nhưng không có kết quả;
(ii) Đã xác định chính xác lý lịch, các đặc điểm để nhận dạng đối tượng bỏ trốn.
Khi có đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu mà trước đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà không bắt được thì Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định truy nã.
Trường hợp chưa có lệnh bắt bị can; bị cáo để tạm giam thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra ngay quyết định truy nã.
3. Thẩm quyền và thời điểm ra quyết định truy nã
Tùy từng giai đoạn tố tụng hình sự mà bị can, bị cáo hoặc người chấp hành án trốn hoặc không xác định được họ ở đâu mà thẩm quyền ra quyết định truy nã là khác nhau.
(i) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã trong giai đoạn điều tra do chính mình phụ trách, ra quyết định truy nã trong giai đoạn truy tố, xét xử theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án;
(ii) Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Thủ trưởng Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh ra quyết định truy nã trong giai đoạn thi hành án.
4. Ai có quyền bắt người bị truy nã?
Căn cứ Điều 112 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về bắt người đang bị truy nã như sau:
Điều 112. Bắt người đang bị truy nã
1. Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản tiếp nhận và giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
2. Khi bắt người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí, hung khí của người bị bắt.
3. Trường hợp Công an xã, phường, thị trấn, Đồn Công an phát hiện bắt giữ, tiếp nhận người đang bị truy nã thì thu giữ, tạm giữ vũ khí, hung khí và bảo quản tài liệu, đồ vật có liên quan, lập biên bản bắt giữ người, lấy lời khai ban đầu; giải ngay người bị bắt hoặc báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.
Như vậy, bất kỳ người nào cũng có quyền bắt người đang bị truy nã, khi bắt người đang bị truy nã thì phải giải ngay người bị bắt đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Ủy ban nhân dân nơi gần nhất.
5. Mục đích, ý nghĩa của truy nã
Thông qua việc ra quyết định truy nã, công khai lý lịch tư pháp hình sự, hình ảnh, đặc điểm nhận dạng của bị can, bị cáo, người bị kết án đang bị truy nã cho xã hội, chủ thể có thẩm quyền mong muốn xác định nơi lẩn trốn của họ.
Trên cơ sở đó xác định các biện pháp nghiệp vụ để vận động đối tượng ra đầu thú hoặc tiến hành bắt giữ họ, tiếp tục quá trình giải quyết vụ án hoặc tiếp tục thi hành án.
