Tạm giữ và tạm giam là hai biện pháp ngăn chặn được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do thân thể của công dân.
Việc áp dụng đúng, đủ và chặt chẽ hai biện pháp này không chỉ phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mà còn thể hiện rõ tinh thần thượng tôn pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp.
Phân biệt tạm giữ và tạm giam trong tố tụng hình sự
| Tiêu chí | Tạm giam | Tạm giữ |
| Khái niệm | Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự mang tính quyền lực nhà nước, tác động trực tiếp đến quyền tự do đi lại của con người, do chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với cá nhân đã bị khởi tố về hình sự trong những trường hợp luật định nhằm ngăn chặn đối tượng bị áp dụng bỏ trốn, gây khó khăn, cản trở cho quá trình giải quyết vụ án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án. | Tạm giữ là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự mang tính quyền lực nhà nước, tác động trực tiếp đến quyền tự do đi lại của con người, do chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo luật định áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn họ bỏ trốn, gây khó khăn, cản trở cho quá trình giải quyết vụ án, bảo đảm tiến hành các hoạt động tố tụng theo luật định. |
| Thẩm quyền | Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam:
(i) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này lệnh bắt phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành để bảo đảm việc ra lệnh là đúng quy định pháp luật về căn cứ, đối tượng áp dụng, thẩm quyền áp dụng; (ii) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp; (iii) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp áp dụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; Hội đồng xét xử. |
Thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giữ:
(i) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; (ii) Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực truộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục Nghiệp vụ và Pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng; (iii) Người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. |
| Giai đoạn tố tụng áp dụng | Có thể áp dụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử khi có căn cứ luật định. | Có thể áp dụng tại nhiều thời điểm của quá trình tố tụng hình sự từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án khi có căn cứ luật định. |
| Thời hạn thực hiện | Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng.
Không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng. Không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần có thời gian dài hơn cho việc điều tra, cơ quan điều tra trình văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn. |
Không quá 03 ngày.
Trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ nhưng không quá 03 ngày. Trường hợp đặc biệt, có thể gia hạn tạm giữ lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày. |
| Chủ thể bị áp dụng | Chủ thể bị áp dụng biện pháp tạm giam chỉ có thể là người đã bị khởi tố về hình sự, bao gồm: bị can, bị cáo, người bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Tuy nhiên, không phải tất cả chủ thể bị khởi tố về hình sự là cá nhân đều bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam mà phải dựa trên căn cứ luật định. Theo đó, có trường hợp là bị can, bị cáo về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng không bị áp dụng biện pháp tạm giam, ngược lại có bị can, bị cáo về tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng nhưng thuộc trường hợp phải tạm giam. |
Tùy từng trường hợp chủ thể bị áp dụng biện pháp tạm giữ có thể là cá nhân chưa bị khởi tố về hình sự hoặc đã bị khởi tố về hình sự bởi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị kết án bởi Tòa án.
Cụ thể, người bị tạm giữ bao gồm: người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã, người phạm tội tự thú, đầu thú mà đối với những người này đã có quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền. Không phải tất cả những người này đều bị tạm giữ vì căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi gây nguy hiểm cho xã hội mà họ bị tình nghi thực hiện, chủ thể có thẩm quyền có thể ra quyết định tạm giữ đối với họ hoặc trả tự do hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác. |
| Đối tượng bị tác động | Quyền tự do đi lại của chủ thể bị áp dụng. | |
| Mục đích, ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp | Khi được áp dụng đúng căn cứ, trình tự, thẩm quyền theo luật định, biện pháp tạm giữ, tạm giam phát huy hiệu quả tích cực trong việc ngăn chặn đối tượng bị áp dụng bỏ trốn, bị can, bị cáo, người bị kết án bỏ trốn, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm việc thi hành án. | |
