Khởi tố là giai đoạn đầu tiên trong tố tụng hình sự thể hiện qua Quyết định khởi tố. Đây là bước mà cơ quan tư pháp hình sự sẽ tiến hành xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm.
Phân biệt khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can trong tố tụng hình sự
| Tiêu chí | Khởi tố vụ án hình sự | Khởi tố bị can |
| Khái niệm | Khởi tố vụ án hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự, làm cơ sở cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự. | Khởi tố bị can là một hoạt động tố tụng hình sự do cơ quan có thẩm quyền điều tra, Viện kiểm sát tiến hành trong giai đoạn điều tra, truy tố khẳng định sự buộc tội bằng tội danh cụ thể đối với cá nhân hoặc pháp nhân thương mại đã thực hiện trên thực tế một hoặc nhiều hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm, làm căn cứ cho việc tiến hành các biện pháp tố tụng tiếp theo đôi với họ. |
| Đối tượng của quyết định khởi tố | Về hành vi có dấu hiệu phạm tội. | Người hoặc pháp nhân có dấu hiệu phạm tội. |
| Căn cứ khởi tố | Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm.
Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ: – Tố giác của cá nhân; – Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; – Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; – Kiến nghị khởi tố của cơ quan Nhà nước; – Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; – Người phạm tội tự thú. (Điều 143 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015) |
– Sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra vụ án. Từ đó, nếu có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.
– Quyết định khởi tố bị can phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với cơ quan điều tra. (Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015) |
| Thẩm quyền ra quyết định khởi tố | – Cơ quan điều tra;
– Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; – Viện kiểm sát; – Hội đồng xét xử. |
– Giai đoạn điều tra: Chủ thể có thẩm quyền khởi tố bị can là:
+ Cơ quan điều tra (đối với tất cả các tội phạm); + Các cơ quan Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển, Kiểm ngư (đối với các tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lý lịch người phạm tội rõ ràng); + Viện kiểm sát (trong trường hợp Viện kiểm sát phát hiện có chủ thể đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm nhưng chưa bị Cơ quan điều tra khởi tố hoặc Viện kiểm sát đã yêu cầu khởi tố bị can nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện). – Giai đoạn truy tố: Chủ thể có thẩm quyền khởi tố bị can là Viện kiểm sát đang thực hiện quyền kiểm tra giám sát và thực hành quyền công tố đối với vụ án. |
| Các giai đoạn ra quyết định khởi tố | Có 04 giai đoạn có thể khởi tố:
– Giai đoạn khởi tố; – Giai đoạn điều tra; – Giai đoạn truy tố; – Giai đoạn xét xử. (Điều 153 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015) |
Có 02 giai đoạn có thể khởi tố:
– Giai đoạn điều tra; – Giai đoạn truy tố. (Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015)
|
| Kết thúc khởi tố | Được tính từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự. | Khởi tố bị can không phải là giai đoạn tố tụng mà chỉ là hành vi tố tụng tại giai đoạn điều tra của người có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can khi đã xác định được một người cụ thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự, cần phải tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. |
| Mối quan hệ | Trong mối quan hệ với khởi tố vụ án, thì khởi tố vụ án là hoạt động tố tụng nhằm xác định sự kiện đã xảy ra mang dấu hiệu tội phạm, trong khi đó khởi tố bị can là hoạt động tố tụng chỉ ra chủ thể nào đã gây ra sự kiện đó. Như vậy, việc khởi tố vụ án khai sinh ra vụ án hình sự cần phải được giải quyết tiếp theo, còn khởi tố bị can sẽ xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi phạm tội đã được thực hiện. | |
