Áp giải và dẫn giải là một biện pháp cưỡng chế để bảo đảm cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử được diễn ra theo đúng trình tự, quy định của pháp luật.
Căn cứ điểm k khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về áp giải như sau:
Áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử.
Áp giải là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự mang tính quyền lực nhà nước tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể và quyền tự do đi lại của con người, do chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội trong những trường hợp luật định nhằm bảo đảm sự có mặt của họ đúng thời gian và địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng theo quyết định áp giải của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Căn cứ điểm l khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định về dẫn giải như sau:
Dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định.
Dẫn giải là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự mang tính quyền lực nhà nước, tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể và quyền tự do đi lại của con người, do chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với người bị hại, người làm chứng, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại bị buộc tội trong những trường hợp luật định nhằm bảo đảm sự có mặt của họ đúng thời gian và địa điểm tiến hành hoạt động tố tụng theo quyết định dẫn giải của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Phân biệt áp giải và dẫn giải trong tố tụng hình sự
| Tiêu chí | Áp giải | Dẫn giải |
| Tính chất | Áp giải là biện pháp cưỡng chế tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể và quyền tự do đi lại của cá nhân bị áp dụng, buộc họ phải di chuyển đến địa điểm và thời gian theo quyết định áp giải của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước thông qua quyền hạn của người có thẩm quyền áp giải và lực lượng hỗ trợ có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định này. | Dẫn giải là biện pháp cưỡng chế tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể và quyền tự do đi lại của cá nhân bị áp dụng, buộc họ phải di chuyển đến địa điểm nhất định theo quyết định trưng cầu hoặc triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh quyền lực nhà nước. Người có thẩm quyền áp dụng biện pháp dẫn giải và lực lượng hỗ trợ có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định dẫn giải.
|
| Việc áp giải, dẫn giải người không được tiến hành vào ban đêm nhằm bảo đảm tính chất khách quan, minh bạch của những hoạt động tố tụng hình sự mà người bị áp giải, dẫn giải buộc phải có mặt. | ||
| Thẩm quyền | + Thẩm quyền áp dụng thuộc về các chủ thể sau:
(i) Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; (ii) Kiểm sát viên; (iii) Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử. |
Thẩm quyền áp dụng thuộc về các chủ thể sau:
(i) Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn khởi tố, điều tra; (ii) Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố; (iii) Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử trong giai đoạn xét xử. |
| Giai đoạn tố tụng áp dụng biện pháp áp giải: áp dụng trong các giai đoan khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử khi có căn cứ luật định. | ||
| Chủ thể bị áp dụng | + Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp;
+ Người bị buộc tội bao gồm: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
|
+ Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;
+ Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu giám định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan; + Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan; + Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị buộc tội trong trường hợp được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập nhưng vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan; |
| Tuy nhiên, xuất phát từ tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa, biện pháp áp giải, dẫn giải không được tiến hành đối với người già yếu, người bị bệnh nặng có xác nhận của cơ quan y tế nhằm bảo đảm sức khỏe của họ. | ||
| Đối tượng bị tác động | Quyền tự do thân thể và quyền tự do đi lại của chủ thể bị áp dụng. | |
| Mục đích của việc áp dụng biện pháp | Buộc người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội được triệu tập có mặt đúng thời gian và địa điểm theo quyết định áp giải để tiến hành hoạt động tố tụng hình sự như thực nghiệm điều tra, lấy lời khai, hỏi cung, đổi chất,… | Buộc người cần phải được giám định hoặc người được triệu tập có mặt đúng thời gian và địa điểm theo quyết định dẫn giải để tiến hành hoạt động tố tụng hình sự như trưng cầu giám định, lấy lời khai, đối chất,… |
| Ý nghĩa của việc áp dụng biện pháp | Việc thực hiện biện pháp áp giải, dẫn giải là khách quan và cần thiết, góp phần hỗ trợ tích cực, giúp các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ tố tụng của mình, bảo đảm hiệu quả của hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. | |
