Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Bộ luật Lao động năm 2019

Phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Lao động năm 2019 nhằm  xác định các quan hệ xã hội do Bộ luật Lao động điều chỉnh, đồng thời cũng xác định tính độc lập của quy phạm pháp luật trong Bộ luật Lao động so với các văn bản pháp luật khác.

  1. Phạm vi điều chỉnh Bộ luật Lao động năm 2019

Điều 1 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:
Bộ luật Lao động quy định tiêu chuẩn lao động; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động, tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở, tổ chức đại diện người sử dụng lao động trong quan hệ lao động và các quan hệ khác liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động; quản lý nhà nước về lao động.

Như vậy có thể thấy phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Lao động năm 2019  bao gồm 3 nhóm vấn đề chính:

  1. Tiêuchuẩn lao động;
  2. Quan hệ lao động và các quan hệ liên quan;
  3. Quản lý nhà nước về lao động.

Tiêu chuẩn lao động do ILO ban hành dưới hình thức các công ước và khuyến nghị. Trong số gần 200 tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO có 04 nhóm tiêu chuẩn lao động cơ bản/cốt lõi thể hiện trong 08 Công ước bắt buộc các nước thành viên của ILO phải thực hiện.

Các nhóm tiêu chuẩn lao động cơ bản bao gồm: Xóa bỏ lao động cưỡng bức – Xóa bỏ lao động trẻ em – Chống phân biệt đối xử trong lao động – Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể. BLLĐ không có chương riêng về tiêu chuẩn lao động nhưng xuyên suốt các chương, điều của BLLĐ những nội dung cốt lõi của tiêu chuẩn lao động quốc tế đều được ghi nhận.

Quan hệ lao động do luật lao động điều chỉnh bao gồm: Quan hệ lao động cá nhân (giữa người lao động với người sử dụng lao động) và quan hệ lao động tập thể (giữa tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở với tổ chức đại diện người sử dụng lao động hoặc/và người sử dụng lao động).

Quan hệ liên quan đến quan hệ lao động bao gồm: Quan hệ việc làm, quan hệ đào tạo, quan hệ bồi thường thiệt hại, quan hệ bảo hiểm trong lĩnh vực lao động, quan hệ đại diện các bên trong lĩnh vực lao động, quan hệ tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động, quan hệ đình công.

Tham gia các mối quan hệ nói trên, Bộ luật Lao động năm 2019  ghi nhận nội dung quyền và các biện pháp bảo đảm thực thi quyền cũng như xác định phạm vi nghĩa vụ và trách nhiệm với các chủ thể trong quan hệ.

Quản lý nhà nước về lao động thuộc phạm trù luật công trong quan hệ lao động. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định nội dung, thẩm quyền, phương thức quản lý nhà nước về lao động nhằm xác định vai trò của Nhà nước trong quản lý, tạo lập môi trường, thể chế cho sự vận hành và phát triển của quan hệ lao động ở Việt Nam.

  1. Đối tượng áp dụng Bộ luật Lao động năm 2019

Quy định về đối tượng áp dụng của Bộ luật Lao động năm 2019  nhằm xác định cụ thể chủ thể nào thuộc phạm vi áp dụng các quy định của Bộ luật Lao động. Điều 2 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định đối tượng áp dụng bao gồm:

  • Người lao động, người học nghề, người tập nghề và người làm việc không có quan hệ lao động.
  • Người sử dụng lao động.
  • Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
  • Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.

Đối tượng áp dụng của Bộ luật Lao động năm 2019 bao gồm cả cá nhân và pháp nhân. Các chủ thể này khá đa dạng, bao gồm những chủ thể trực tiếp của quan hệ lao động (người lao động Việt Nam và người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, người sử dụng lao động); các chủ thể tiền (trước) quan hệ lao động (người học nghề, người tập nghề); các chủ thể có liên quan đến quan hệ lao động (cơ sở đào tạo nghề, cơ quan bảo hiểm xã hội…).

Trong đối tượng áp dụng của Bộ luật Lao động năm 2019 còn có đối tượng: Người làm việc không có quan hệ lao động. Đây là đối tượng lần đầu tiên được đưa vào áp dụng trong Bộ luật Lao động. Việc mở rộng đến nhóm đối tượng này cho thấy tầm bao phủ, vị trí, vai trò của Bộ luật Lao động năm 2019 với quan hệ lao động trong thị trường cũng như nhu cầu bảo vệ bằng pháp luật lao động với những đối tượng lao động này.

Tuy nhiên, việc mở rộng đối tượng áp dụng của Bộ luật Lao động năm 2019 đến những người làm việc không có quan hệ lao động cũng có khả năng nảy sinhh những bất cập về pháp lý khi triển khai thực hiện Bộ luật Lao động:

  1. Về khoa học luật lao động – tiền lệ trên thế giới và ở Việt Nam chưa thấy có sự điều chỉnh nhóm đối tượng này trong luật lao động mà pháp luật lao động chỉ tập trung điều chỉnh nhóm quan hệ lao động làm công, hưởng lương với những đặc trưng về chủ thể, quyền và nghĩa vụ của 1 bên trong quan hệ lao động;
  2. Các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 chỉ áp dụng trên cơ sở có sự tồn tại của mối quan hệ song phương, từ đó có sự tương hỗ về quyền và nghĩa vụ chủ thể. Do đó khi có sự vi phạm của chú thế này thì pháp luật lao động có cơ sở để xác định trách nhiệm của chủ thể kia (ví dụ: trong vấn đề thời giờ làm việc, tiền lương, điều kiện lao động, kỷ luật lao động… khi người lao động bị vi phạm thì luật lao động sẽ xác định được người sử dụng lao động cụ thể chịu trách nhiệm về vi phạm).

Tuy nhiên, đối với người làm việc không có quan hệ lao động thì đây là đối tượng chủ yếu thuộc khu vực phi kết cấu, là nhóm đối tượng tự tạo việc làm nên quan hệ không có tính song phương hoặc không có tính chất của quan hệ thuê mướn lao động. Do đó, việc áp dụng các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, tiền lương tối thiểu, điều kiện làm việc, thương lượng tập thể… với nhóm đối tượng này là thách thức không nhỏ khi thực thi Bộ luật Lao động.

Trong các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, có lẽ chỉ có quy định về lao động chưa thành niên là có thể áp dụng với nhóm người làm việc không có quan hệ lao động. Chính vì vậy, quy định đối tượng áp dụng với người làm việc không có quan hệ lao động dường như mang nhiều ý nghĩa biểu tượng và tuyên ngôn pháp lý trong bối cảnh hiện nay./.