Nội dung thoả thuận mang thai hộ theo quy định của pháp luật

Điều 96 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những nội dung cơ bản của thoả thuận mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:

  1. Nội dung thoả thuận giữa bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai
  1.  Thông tin đầy đủ về điều kiện mang thai hộ đối với các bên trong việc mang thai hộ.

Đây là điều kiện không thể thiếu trong nội dung thỏa thuận của các bên, là cơ sở để xác định định văn bản thỏa thuận mang thai hộ có hiệu lực pháp lý hay không.

  1. Cam kết thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình sinh đẻ (từ khi bắt đầu thực hiện việc mang thai cho đến khi giao nhận con)

Đây là điều kiện quan trọng để xác định trách nhiệm của các bên đối với đứa trẻ được sinh ra từ việc mang thai hộ. Đồng thời là cơ sở giải quyết những tranh chấp xảy ra liên quan đến việc mang thai hộ.

  1. Việc giải quyết hậu quả trong trường hợp có tai biến sản khoa; hỗ trợ để bảo đảm sức khoẻ sinh sản cho người man thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con; việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa vụ khác có liên quan.
  2. Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thỏa thuận.
  3. Thỏa thuận về việc mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng.

Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản có công chứng. Việc ủy quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý.

Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thoả thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này.

Đây được coi là một chứng thư pháp lý quan trọng để xác định tư cách là cha, là con khi thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết như khai sinh cho trẻ được sinh ra từ việc mang thai hộ (khi giấy chứng sinh không có tên của bên nhờ mang thai hộ), hoặc khi có tranh chấp giữa các bên về quyền và nghĩa vụ trong việc mang thai hộ.

  1. Quyền và nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ

Bên nhờ mang thai hộ có nghĩa vụ chi trả các chi phí thực tế đảm bảo việc chăm sóc sinh sản theo quy định của Bộ Y tế. Tức là, bên nhờ mang thai hộ phải chi trả những khoản chi phí thực tế như phí thăm khám, thuốc thang.

Bên nhờ mang thai hộ không được từ chối nhận con. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chậm nhận con hoặc vi phạm nghĩa vụ về nuôi dưỡng, chăm sóc con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bên mang thai hộ từ chối giao con thì bên nhờ mang thai hộ có quyền yêu cầu Toà án buộc bên mang thai hộ giao con. Đây là nghĩa vụ ràng buộc trách nhiệm của bên nhờ mang thai hộ với đứa trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ. Đồng thời, nghĩa vụ này cũng giúp cho người mang thai hộ có tâm lý thoải mái trong suốt quá trình mang thai hộ, hoặc làm cho người man g thai hộ không nảy sinh ý định chiếm đoạt đứa
trẻ đó.

  1. Quyền và nghĩa vụ của bên mang thai hộ

Bên mang thai hộ có nghĩa vụ tuân thủ quy định về thăm khám, các quy định sàng lọc để phát hiện, điều trị các bất thường, dị tật của bào thai theo quy định của Bộ Y tế. Bên mang thai hộ có quyền yêu cầu bên nhờ mang thai hộ thực hiện việc hỗ trợ, chăm sóc sức khoẻ sinh sản.

Trong trường hợp vì lý do tính mạng, sức khỏe của mình hoặc sự phát triển của thai nhi, người mang thai hộ có quyền quyết định số lượng bào thai, việc tiếp tục hay không tiếp tục mang thai phù hợp với quy định của pháp luật về chăm sóc sức sinh sản và sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Đây được coi là điều kiện đảm bảo cho sức khoẻ của bên mang thai hộ cũng như sự an toàn và phát triển của thai nhi.

Người mang thai hộ, chồng của người mang thai hộ có quyền, nghĩa vụ như cha mẹ trong việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản và chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ, phải giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ từ chối nhận con thì bên mang thai hộ có quyền yêu cầu Toà án buộc bên nhờ mang thai hộ nhận con.

  1. Chính sách phúc lợi xã hội mà người mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng

Người mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ. Trong trường hợp kể từ ngay sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế độ thai sản  thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày.

Việc sinh con do mang thai hộ không tính vào số con theo chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội từ thời điểm nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

  1. Hệ quả pháp lý của việc mang thai hộ
  1. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra. Như vậy, căn cứ xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ dựa trên yếu tố huyết thống, thời kỳ hôn nhân của người nhờ mang thai hộ. Đứa trẻ này có thể thuộc trường hợp con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng sự kiện sinh đẻ không phải do người vợ thực hiện mà do người khác thực hiện.

  1. Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con giữa bên nhờ mang thai hộ và đứa trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ; Quyền và nghĩa vụ giữa đứa trẻ sinh ra từ việc mang thai hộ và thành viên khác của gia đình người nhờ mang thai hộ

Quyền, nghĩa vụ của bên nhờ mang thai hộ vì nhân đạo đối với con phát sinh từ thời điểm con được sinh ra. Trong trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết thì con được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật đối với di sản bên nhờ mang thai hộ. Giữa con sinh ra từ việc mang thai hộ và các thành viên khác của gia đình bên nhờ mang thai hộ có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật Hôn nhân – đình năm 2014, Bộ luật Dân sự và luật khác có liên quan.

Trong trường hợp chưa giao đứa trẻ mà cả hai vợ chồng, nhờ mang thai hộ chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì bên mang thai hộ có quyền nhận nuôi đứa trẻ. Nếu bên mang thai hộ không nhận nuôi đứa trẻ thì việc giám hộ và cấp dưỡng đối với đứa trẻ được thực hiện theo quy định của Luật này và Bộ luật Dân sự./.