Nơi cư trú của vợ chồng

Điều 43 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 quy định nơi cư trú của vợ chồng.

Điều 43. Nơi cư trú của vợ, chồng

  1. Nơi cư trú của vợ, chồng là nơi vợ, chồng thường xuyên chung sống.
  2. Vợ, chồng có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thoả thuận.

Theo đó, nơi cư trú của vợ chồng được xác định theo nơi thường xuyên chung sống của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có thoả thuận thì họ có thể có nơi cư trú khác nhau.

Điều 43 BLDS năm 2015 kế thừa nguyên vẹn quy định tại Điều 55 BLDS năm 2005. Tuy nhiên, nội dung quy định này vẫn còn tồn tại một số bất cập.

Thứ nhất, vợ chồng chỉ có thể có nơi cư trú khác nhau nếu có thỏa thuận. Như vậy, nếu không ai thỏa thuận nhưng vợ chồng vẫn còn hai nơi cư trú khác nhau thì trường hợp này, nó cư trú của họ được xác định theo nơi cư trú của cá nhân hay theo nơi cư trú của chồng thì quy định của điều luật chưa đề cập đến.

Thứ hai, nếu vợ chồng có nơi chung sống nhưng không thường xuyên, nói cách khác, họ vừa có nơi chung sống với nhau, vừa có nơi sinh sống khác nhau. Ví dụ, như vợ, chồng làm ở hai nơi khác nhau thì trường hợp này, điều luật cũng chưa xác định rõ.

Thứ ba, nếu vợ hoặc chồng thuộc trường hợp cần giám hộ và người còn lại là người giám hộ thì nơi cư trú của vợ chồng được xác định theo quy định tại điều luật này hay theo quy định về nơi cư trú của người giám hộ.

Có thể nói, quy định về nơi cư trú của vợ chồng còn nhiều bất cập chưa được làm rõ. Bên cạnh đó, hiện nay, BLDS năm 2015 đã xác định chủ thể của quan hệ dân sự chỉ còn là cá nhân, pháp nhân. Do đó, quy định về nơi cư trú của vợ chồng, thuộc quy định về phần cá nhân dường như không phù hợp với tổng thể chung của các quy định./.