Nơi cư trú của người chưa thành niên

Điều 41 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 xác định nơi cư trú của người chưa thành niên.

Điều 41. Nơi cư trú của người chưa thành niên

  1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.
  2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định.

Theo quy định tại Điều 41, nơi cư trú của người chưa thành niên được xác định theo nơi cư trú của cha mẹ. Điều này rất hợp lý bởi về cơ bản, người chưa thành niên là người chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, do đó, hầu hết các trường hợp, họ đều phải phụ thuộc vào cha mẹ trong các quan hệ dân sự.

Nếu cha, mẹ của cá nhân chưa thành niên không cùng cư trú tại một địa điểm thì nơi cư trú của cá nhân được xác định theo nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ mà cá nhân chưa thành niên, thường xuyên sống cùng.

Ví dụ: sau khi ly hôn, con chưa thành niên được Tòa án giao cho mẹ chăm sóc nuôi dưỡng, nơi cư trú của người con được xác định chính là nơi cư trú của người mẹ.

Trong một số trường hợp, nếu có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc theo quy định của pháp luật, người chưa thành niên có thể có nơi cư trú không phụ thuộc vào nơi cư trú của cha, mẹ. Quy định này cũng phù hợp với thực tế và thống nhất với quy định tại những phân khác trong BLDS.

Ví dụ: nếu cha, mẹ của người chưa thành niên thuộc vào trường hợp bị hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con, người chưa thành niên sẽ được xác định là người được giám hộ và nơi cư trú của đứa trẻ trong trường hợp này cần được xác định theo người giám hộ, để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho đứa trẻ.

Điều 41 BLDS năm 2015 kế thừa nguyên vẹn, không sửa đổi quy định 53 BLDS năm 2005. Theo đó, nội dung này vẫn chưa thực sự rõ ràng ở một vài vấn đề.

Thứ nhất, nếu trường hợp cha mẹ của người chưa thành niên có hai nơi cư trú khác nhau nhưng người chưa thành niên không thường xuyên sống với người nào mà chia đều thời gian cho cả bố và me, hoặc không thể xác định được họ sống với ai thường xuyên hơn thì điều luật không quy định rõ ràng nơi cư trú của họ là ở đâu. Bởi vì, đối với người chưa thành niên, điều luật không có chỉ ra trường hợp “đang sống” như đối với trường hợp xác định nơi cư trú nói chung.

Thứ hai, việc người chưa thành niên có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha mẹ được thể hiện có thể dẫn tới những cách hiểu không thống nhất. Ví dụ như: có thể cần cả sự đồng ý của cha và mẹ hoặc chỉ cần sự đồng ý của một trong hai người (vì quy định được thể hiện là “nếu được cha, mẹ đồng ý”), chỉ áp dụng theo quy định của pháp luật khi không có sự đồng ý của cha mẹ (vì quy định được thể hiện là “hoặc thay vì “trừ trường hợp”).

Những bất cập này có thể dẫn tới sự khó áp dụng khi xác định về nơi cư trú của người chưa thành niên. Do đó, cần được bổ sung các trường hợp còn thiếu cũng như xác định rõ yêu cầu về sự đồng ý của cha mẹ là như thế nào. Ngoài ra, điều luật cũng cần quy định để đảm bảo thứ tự ưu tiên cần được tôn trọng đúng mức trong các trường hợp pháp luật quy định về nơi cư trú của người chưa thành niên./.