Nơi cư trú của cá nhân

Nơi cư trú của cá nhân có ý nghĩa quan trọng trong các quan hệ dân sự giữa các cá nhân với nhau, cũng như trong các quan hệ giữa cá nhân với cơ quan nhà nước.

Ví dụ: nơi cư trú của cá nhân mang quyền trong quan hệ nghĩa vụ là nơi hiện nghĩa vụ nếu đối tượng của nghĩa vụ là động sản và các bên không có thuận khác; nơi cư trú của cá nhân cũng chính là địa điểm mở thừa kế của cá nhân khi cá nhân chết.

Điều 40 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đưa ra cách xác định nơi cư trú của cá nhân là nơi cá nhân đó thường xuyên sinh sống. Cá nhân có thời gian sống tại một địa điểm kéo dài, liên tục, Vẽ nguyên tắc, sẽ là cơ sở xác định địa điểm đó là nơi cư trú của họ. Cụ thể:

Điều 40. Nơi cư trú của cá nhân

  1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.
  2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.
  3. Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.

Ví dụ: An mua nhà, làm việc, sinh sống tại Hà Nội trong 10 năm, kể từ sau khi tốt nghiệp đại học. Như vậy, Hà Nội là nơi An thường xuyên sinh sống và là nơi cư trú của An.

Nếu không thể xác định nơi cư trú của cá nhân theo điều kiện “thường xuyên sinh sống”, ví dụ như trường hợp cá nhân không thường xuyên sống tại địa điểm nào cố định, thì nơi cư trú của cá nhân chính là nơi cá nhân đó đang sống.

Trường hợp này, nơi cư trú của cá nhân xác định theo sự có mặt trên thực tế của cá nhân, thay cho tính chất liên tục, kéo dài về thời gian của cá nhân tại địa điểm được xác định là nơi cư trú.

Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của nơi cư trú đối với quan hệ dân sự của cá nhân, trong trường hợp nơi cư trú của cá nhân gắn với việc thực hiện quyền hoặc nghĩa vụ trong quan hệ dân sự thì khi thay đổi nơi cư trú, cá nhân phải thông báo cho bên kia trong quan hệ nghĩa vụ biết về nơi cư trú mới của mình.

Ví dụ: Theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán, nơi cư trú của A là nơi B giao hàng cho A. Nếu A thay đổi nơi cư trú phải thông báo cho B biết. Trong trường hợp A không thông báo, B mang hàng đến địa điểm là nơi cư trú cũ của A, đã được xác định trong hợp đồng, việc hoàn thành nghĩa vụ của B và phát sinh trách nhiệm của A có thể thực hiện theo Mục 4 Phần thứ ba của BLDS năm 2015.

Điều 40 BLDS năm 2015 kế thừa nội dung quy định tại Điều 52 BLDS năm 2005 và có bổ sung thêm khoản 3. Quy định về xác định nơi cư trú của cá nhân theo Điều 40 BLDS năm 2015 và Điều 52 BLDS năm 2005 đều vẫn chưa giải quyết được một số bất cập hiện còn tồn tại.

Thứ nhất, điều luật chưa có bất kỳ giải thích về điều kiện gì được xác định là “thường xuyên” và như thế nào là sinh sống”. Nói cách khác, thời hạn bao lâu, có thể gián đoạn thời gian hay phải liên tục, nếu chỉ là địa điểm sống còn địa điểm làm việc ở nơi khác hoặc ngược lại… để xác định đáp ứng yếu tố thường xuyên sinh sống là các hướng dẫn hiện còn bỏ ngỏ và khó xác định khi áp dụng điều luật.

Thứ hai, “đang sống” cũng là một tiêu chí không rõ ràng để xác định. Ví dụ, như một cá nhân đến công tác tại một địa phương trong thời gian nửa tháng, cá nhân phải thuê một phòng tại khách sạn để ăn nghỉ ngủ thì địa điểm đó có được xác định là nơi cá nhân đang sống để xác định địa điểm cư trú của cá nhân hay không. Ngoài ra, các điều kiện để chứng minh như giấy tờ xác nhận hoặc hoặc thời gian cũng không được đề cập tới tại căn cứ xác định nơi cư trú này.

Có thể nói, Điều 40 của BLDS năm 2015 rất không đủ cụ thể để áp dụng trong việc xác định nơi cư trú của cá nhân. Do đó, điều luật này cần được bổ sung chi tiết các điều kiện để xác định về nơi thường xuyên sinh sống của cá nhân hoặc nơi đang sống của cá nhân./.