Mục đích tiến hành nhận dạng là nhằm xác nhận sự giống hay khác nhau giữa đối tượng nhận dạng với hình ảnh của đối tượng mà người nhận dạng đã tri giác trước đây. Qua việc nhận dạng có thể xác định được người phạm tội, vật chứng của vụ án, tung tích của tử thi…
Căn cứ Điều 190 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về nhận dạng như sau:
Điều 190. Nhận dạng
1. Khi cần thiết, Điều tra viên có thể đưa người, ảnh hoặc vật cho người làm chứng, bị hại hoặc bị can nhận dạng.
Số người, ảnh hoặc vật đưa ra để nhận dạng ít nhất phải là ba và bề ngoài phải tương tự nhau, trừ trường hợp nhận dạng tử thi.
Trước khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc nhận dạng. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc nhận dạng. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi rõ vào biên bản nhận dạng.
2. Những người sau đây phải tham gia việc nhận dạng:
a) Người làm chứng, bị hại hoặc bị can;
b) Người chứng kiến.
3. Nếu người làm chứng hoặc bị hại là người nhận dạng thì trước khi tiến hành, Điều tra viên phải giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối. Việc này phải ghi vào biên bản.
4. Điều tra viên phải hỏi trước người nhận dạng về những tình tiết, vết tích và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được.
Trong quá trình tiến hành nhận dạng, Điều tra viên không được đặt câu hỏi gợi ý. Sau khi người nhận dạng đã xác nhận một người, một vật hay một ảnh trong số được đưa ra để nhận dạng thì Điều tra viên yêu cầu họ giải thích là họ đã căn cứ vào các vết tích hoặc đặc điểm gì mà xác nhận được người, vật hay ảnh đó.
5. Biên bản nhận dạng được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này. Biên bản ghi rõ nhân thân, tình trạng sức khỏe của người nhận dạng và của những người được đưa ra để nhận dạng; đặc điểm của vật, ảnh được đưa ra để nhận dạng; các lời khai báo, trình bày của người nhận dạng; điều kiện ánh sáng khi thực hiện nhận dạng.
Như vậy, nhận dạng là một biện pháp điều tra hình sự do chủ thể có thẩm quyền điều tra tiến hành trong giai đoạn điều tra, thông qua việc cho người làm chứng, bị hại hoặc bị can quan sát một số người, hình ảnh, vật tương tự như người, ảnh, vật mà họ đã thấy trong vụ án để họ lựa chọn đối tượng nào là đối tượng mà họ đã thấy được trong vụ án, từ đó làm căn cứ để xác định chủ thể, hình ảnh hoặc vật đã từng xuất hiện trong vụ án hình sự.
Biện pháp nhận dạng bao gồm: (i) Nhận dạng người, (ii) Nhận dạng ảnh, (iii) Nhận dạng vật.
Những người phải tham gia việc nhận dạng được quy định tại khoản 2 Điều 190 BLTTHS 2015, gồm:
– Người nhận dạng: Có thể là người làm chứng, bị hại hoặc bị can. Nếu lựa chọn những người tham gia tố tụng khác như người bị bắt, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự… làm người nhận dạng thì kết quả nhận dạng sẽ không có giá trị pháp lý và không được dùng làm chứng cứ giải quyết vụ án.
– Người chứng kiến: Người chứng kiến có trách nhiệm xác nhận nội dung, kết quả nhận dạng và có thể nêu ý kiến cá nhân. Ý kiến này được ghi vào biên bản. Những người sau đây không được làm người chứng kiến việc nhận dạng: Người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức đúng sự việc; người dưới 18 tuổi…
Đối tượng nhận dạng là người, ảnh, vật có liên quan trong vụ án có vẻ bề ngoài tương tự nhau và số lượng được đưa ra để lựa chọn ít nhất phải là ba mẫu, trừ trường hợp nhận dạng tử thi.
Biện pháp nhận dạng được tiến hành nhờ sự phối hợp của người tham gia tố tụng giúp cơ quan có thẩm quyền sàng lọc, thu hẹp và xác định đối tượng tình nghi và hỗ trợ tìm kiếm các chủ thể, vật chứng hoặc các đối tượng khác có liên quan trong vụ án.
Do việc nhận dạng được thực hiện bởi người tham gia tố tụng trong vụ án nên biện pháp nhận dạng là một phương thức điều tra bảo đảm tính khách quan, tạo điều kiện để người có liên quan cung cấp thông tin về một hoặc một số đối tượng của vụ án, từ đó làm căn cứ để cơ quan có thẩm quyền tiến hành các biện pháp tố tụng phù hợp với thông tin mà người thực hiện việc nhận dạng đã cung cấp.
* Lưu ý: Biện pháp nhận dạng phụ thuộc hoàn toàn vào tri giác của người nhận dạng nên trong nhiều trường hợp, độ tin cậy của kết quả nhận dạng không cao, bên cạnh đó cơ quan có thẩm quyền cũng không thể buộc chủ thể nhận dạng phải bảo đảm tính chính xác của kết quả nhận dạng.
Vì vậy, biện pháp nhận dạng không phải luôn xác định được sự thật và cũng không thể buộc người nhận dạng chịu trách nhiệm về câu trả lời của họ, trừ trường hợp họ cố ý khai báo gian dối.
