Theo quy định tại Điều 29 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Do vậy, trong trường hợp mà vụ án có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt thì phải có người phiên dịch, người dịch thuật.
Căn cứ Điều 70 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về người phiên dịch, người dịch thuật như sau:
Điều 70. Người phiên dịch, người dịch thuật
1. Người phiên dịch, người dịch thuật là người có khả năng phiên dịch, dịch thuật và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu tố tụng không thể hiện bằng tiếng Việt.
2. Người phiên dịch, người dịch thuật có quyền:
a) Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
b) Đề nghị cơ quan yêu cầu bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa;
c) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng liên quan đến việc phiên dịch, dịch thuật;
d) Được cơ quan yêu cầu chi trả thù lao phiên dịch, dịch thuật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.
3. Người phiên dịch, người dịch thuật có nghĩa vụ:
a) Có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
b) Phiên dịch, dịch thuật trung thực. Nếu phiên dịch, dịch thuật gian dối thì người phiên dịch, người dịch thuật phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự;
c) Giữ bí mật điều tra mà mình biết được khi phiên dịch, dịch thuật;
d) Phải cam đoan trước cơ quan đã yêu cầu về việc thực hiện nghĩa vụ của mình.
4. Người phiên dịch, người dịch thuật phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
b) Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản trong vụ án đó;
c) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
5. Việc thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật do cơ quan yêu cầu phiên dịch, dịch thuật quyết định.
6. Những quy định tại Điều này cũng áp dụng đối với người biết được cử chỉ, hành vi của người câm, người điếc, chữ của người mù.
Người phiên dịch là cá nhân có trình độ chuyên môn trong việc chuyển từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác và thành lời nói một cách chính xác và trực tiếp, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu tham gia tố tụng khi có người tham gia tố tụng bị câm, bị điếc hoặc không sử dụng được tiếng Việt.
Người dịch thuật là cá nhân có trình độ chuyên môn trong việc chuyển tài liệu từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác dưới dạng văn bản và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu tham gia tố tụng khi có tài liệu tố tụng không được thể hiện bằng tiếng Việt.
Người phiên dịch, người dịch thuật là cá nhân. Họ tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự để hỗ trợ cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự khi có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc có tài liệu không thể hiện bằng tiếng Việt theo nguyên tắc tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự.
Kết quả của việc phiên dịch, dịch thuật có ý nghĩa hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết đúng đắn vụ án, nên người phiên dịch, người dịch thuật phải bảo đảm sự vô tư khi tham gia tố tụng.
Trường hợp có căn cứ cho rằng, người phiên dịch, dịch thuật không bảo đảm sự vô tư thì có thể từ chối hoặc bị thay đổi. Các trường hợp từ chối hoặc thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật cụ thể bao gồm:
(i) Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;
(ii) Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản trong vụ án đó;
(iii) Đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó.
Quy định này không chỉ là để đảm bảo tính chính xác và công bằng trong quá trình phiên dịch, dịch thuật mà còn là để bảo vệ quyền lợi và khách quan của các bên liên quan trong vụ án. Việc thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật hoặc yêu cầu họ từ chối tham gia tố tụng trong những trường hợp này là cách để đảm bảo rằng quá trình tố tụng diễn ra một cách công bằng và minh bạch nhất có thể.
Tư cách tố tụng của người phiên dịch, người dịch thuật xuất hiện theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Theo đó, yêu cầu của chủ thể có thẩm quyền là căn cứ về hình thức để phát sinh tư cách pháp lý.
Về bản chất, khi vụ án có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt, người câm, người điếc hoặc có tài liệu không thể hiện bằng tiếng Việt thì việc cần phải có người phiên dịch, người dịch thuật là nhu cầu thiết yếu, là cơ sở cho sự phát sinh vai trò của người phiên dịch, người dịch thuật trong quá trình giải quyết vụ án.
