1. Kết quả thực hiện hợp tác quốc tế
Kết quả thực hiện hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là việc trả lời bằng văn bản của một quốc gia kèm theo hồ sơ, tài liệu, chứng cứ về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động hợp tác có liên quan tới việc giải quyết vụ án hình sự mà quốc gia thực hiện hợp tác là quốc gia có liên quan đến vụ án hình sự đó.
Kết quả thực hiện hợp tác quốc tế phản ánh quá trình hợp tác giữa các quốc gia trong việc giải quyết các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài. Kết quả thực hiện hợp tác quốc tế phải luôn được thể hiện thành văn bản.
Kết quả của việc thực hiện hợp tác quốc tế có giá trị chứng cứ nếu đạt đồng thời các tiêu chí khách quan, liên quan, hợp pháp của chứng cứ và thỏa mãn các yêu cầu theo quy định của pháp luật tố tụng.
2. Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp
Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp trong tố tụng hình sự là việc trả lời bằng văn bản của một quốc gia kèm theo hồ sơ, tài liệu, chứng cứ về việc thực hiện một hoặc một số yêu cầu tư pháp của một quốc gia khác về vụ án hình sự mà quốc gia thực hiện yêu cầu là quốc gia có liên quan trong vụ án hình sự đó.
Thông thường, các quốc gia nhận ủy thác tư pháp là quốc gia có công dân hoặc pháp nhân hoặc tài sản liên quan đến vụ án đang được giải quyết tại một quốc gia khác. Vì vậy, kết quả thực hiện ủy thác tư pháp phản ánh quá trình tương trợ tư pháp giữa các quốc gia trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài. Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp phải luôn được thể hiện thành văn bản, thể hiện kết quả của hoạt động tương trợ tư pháp giữa các quốc gia trong mối quan hệ hợp tác quốc tế về tư pháp.
Kết quả của việc thực hiện ủy thác tư pháp có giá trị chứng cứ nếu đạt đồng thời các tiêu chí khách quan, liên quan, hợp pháp của chứng cứ và thỏa mãn các yêu cầu theo quy định của pháp luật tố tụng.
3. Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế có được coi là chứng cứ không?
Căn cứ Điều 103 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác như sau:
Điều 103. Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác
Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với chứng cứ khác của vụ án.
Theo đó, kết quả do cơ quan nước ngoài cung cấp thông qua cơ chế hợp tác quốc tế hoặc ủy thác tư pháp không đương nhiên được công nhận là chứng cứ. Để có giá trị pháp lý, những kết quả này phải được xem xét trong mối liên hệ với các tài liệu, tình tiết khác đã được thu thập trong vụ án.
Nếu có sự phù hợp và không mâu thuẫn, những tài liệu này có thể được Tòa án công nhận là chứng cứ để buộc tội hoặc gỡ tội. Ngược lại, nếu tài liệu không đảm bảo tính thống nhất với hồ sơ vụ án hoặc có dấu hiệu nghi ngờ, cơ quan tố tụng có thể loại trừ hoặc xác minh bổ sung.
Ví dụ: Trong một vụ án rửa tiền xảy ra tại thành phố Hà Nội, cơ quan điều tra xác định nghi phạm là Nguyễn Văn A, người điều hành một đường dây chuyển tiền trái phép từ Việt Nam sang một số tài khoản ở Châu Âu. Nhằm xác minh dòng tiền và nguồn gốc tài sản, cơ quan điều tra đã gửi văn bản ủy thác tư pháp đến Cộng hòa Séc, nơi tài khoản nhận tiền được mở.
Sau 3 tháng, phía Cộng hòa Séc phản hồi bằng văn bản chính thức xác nhận: tài khoản nhận tiền đứng tên A, có hơn 60 giao dịch đến từ các tài khoản tại Việt Nam với nội dung tương đồng. Kết quả này phù hợp với lời khai của nhân chứng trong vụ án và bảng sao kê thu thập được tại ngân hàng trong nước. Trên cơ sở đó, cơ quan điều tra đã đưa kết quả này vào hồ sơ vụ án và Tòa án chấp nhận đây là chứng cứ để buộc tội bị cáo.
