Hủy bản án trong tố tụng hình sự là hoạt động tố tụng do Tòa án cấp phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quyết định về việc không công nhận bản án để điều tra lại, xét xử lại, đình chỉ vụ án hoặc công nhận bản án đã tuyên trước đó để thi hành.
Thẩm quyền huỷ bản án
Hoạt động hủy bản án có ý nghĩa và tầm quan trọng rất lớn trong việc xác định sự thật vụ án, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của những chủ thể liên quan. Vì thế, thẩm quyền hủy bản án thuộc về Tòa án cấp phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm, tái thẩm và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Cụ thể:
(i) Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm (và Thẩm phán được phân công xét xử phúc thẩm theo thủ tục rút gọn, cấp phúc thẩm) có thẩm quyền hủy bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật;
(ii) Hội đồng giám đốc thẩm và Hội đồng tái thẩm có thẩm quyền ra quyết định hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật;
(iii) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm có hiệu lực pháp luật sau khi tiến hành thủ tục xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ hủy bản án
(i) Căn cứ hủy bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm
+ Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại: Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại khi nhận thấy có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không bổ sung được; hoặc phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố.
+ Hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại: Khi Tòa án cấp phúc thẩm xem xét thấy có các căn cứ sau đây thì có quyền hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại: Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng thành phần mà Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định; Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm; Người được Tòa án cấp sơ thẩm tuyên không có tội nhưng có căn cứ cho rằng người đó đã phạm tội; Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc áp dụng biện pháp tư pháp đối với bị cáo không có căn cứ; Bản án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật nhưng không thuộc các trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
+ Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án: Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để chấm dứt việc giải quyết vụ án khi có căn cứ sau đây; Khi có một trong các căn cứ cho rằng không có sự việc phạm tội hoặc hành vi không cấu thành tội phạm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, tuyên bị cáo không có tội và đình chỉ vụ án. Hoặc khi có một trong các căn cứ sau: Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; Tội phạm đã được đại xá; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; khi người bị hại rút yêu cầu khởi tố tại giai đoạn xét xử phúc thẩm.
(ii) Căn cứ hủy bản án của Hội đồng giám đốc thẩm
Khi có kháng nghị của chủ thể có thẩm quyền, nếu xét thấy có căn cứ vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án thì Tòa án cấp giám đốc thẩm sẽ tiến hành xem xét lại toàn bộ vụ án. Trong quá trình xem xét, nếu Hội đồng giám đốc thẩm xét thấy có ít nhất một trong các căn cứ sau đây thì sẽ tiến hành hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật:
Một là, Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm nhưng bị hủy, sửa không đúng pháp luật;
Hai là, Hội đồng giám đốc thẩm hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại nếu có một trong các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Nếu hủy để xét xử lại thì tùy trường hợp, Hội đồng giám đốc thẩm có thể quyết định xét xử lại từ cấp sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm;
Ba là, Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án nếu có một trong các căn cứ không khởi tố vụ án hình sự.
(iii) Căn cứ hủy bản án của Hội đồng tái thẩm
Về căn cứ để Hội đồng tái thẩm hủy án bản để điều tra lại, xét xử lại, hoặc đình chỉ điều tra không được quy định chi tiết như ở giám đốc thẩm, nhưng theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì các thủ tục khác về tái thẩm nếu không được quy định sẽ được thực hiện theo các quy định về thủ tục giám đốc thẩm, mà các quy định về căn cứ để Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án là khi có một trong các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc khi có một trong các căn cứ không khởi tố vụ án.
Từ đó có thể hiểu căn cứ để Hội đồng tái thẩm hủy bản án để điều tra lại, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án là khi có một trong các căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.
(iv) Căn cứ hủy bản án của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Khi có căn cứ xác định rằng, quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có vi phạm nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không biết được khi ra quyết định đó, thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có thể sẽ quyết định hủy bản án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.
Mục đích và ý nghĩa việc hủy bản án
Chủ thể có thẩm quyền quyết định hủy bản án nhằm khẳng định việc không công nhận bản án đã tuyên trước đó để điều tra lại, xét xử lại, đình chỉ vụ án hoặc công nhận bản án đã tuyên trước đó để thi hành.
Hủy bản án của Tòa án là một quyết định quan trọng góp phần khắc phục được tình trạng oan, sai đối với các bản án, quyết định của Tòa án, từ đó nhằm bảo đảm tính đúng đắn trong thực tiễn áp dụng pháp luật, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan, bảo đảm tính đúng đắn và khách quan của việc giải quyết vụ án, tạo niềm tin cho nhân dân vào cơ quan có thẩm quyền, đồng thời phù hợp với định hướng cải cách tư pháp ở nước ta và xu thế phát triển chung của thời đại trong giai đoạn hiện nay.
