Hợp đồng lao động và đặc điểm của hợp đồng lao động

Hợp đồng lao động (HĐLĐ) là hình thức pháp lý của quan hệ lao động (QHLĐ) cá nhân, đây là loại QHLĐ phổ biến trên thực tế. Trong QHLĐ, người lao động (NLĐ) thường ở bên yếu thế hơn so với người sử dụng lao động (NSDLĐ) về mặt kinh tế, việc làm và phải chịu sử quản lý, điều hành của NSDLĐ trong quá trình thực hiện công việc.

Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện công việc, NLĐ còn phải đối mặt với các vấn đề như ảnh hưởng về sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, tinh thần, bị lạm dụng…Chính vì vậy, ngoài các nguyên tắc chung của hợp đồng, pháp luật lao động còn đưa ra những nguyên tắc, chuẩn mực riêng cho việc giao kết, thực hiện, chấm dứt HĐLĐ. Nói cách khác, HĐLĐ được xem là trung tâm của pháp luật lao động.

Ngoài ra, với tư cách là một loại hợp đồng, HĐLĐ có ý nghĩa là hình thức để các bên xác lập và thực hiện một quan hệ pháp luật và là cơ sở pháp lý để các bên bảo vệ quyền lợi của mình khi có tranh chấp xảy ra. Dưới góc độ QHLĐ, HĐLĐ còn có ý nghĩa đối với cả ba bên – NLĐ, NSDLĐ, và Nhà nước.

Hợp đồng lao động

Văn bản pháp luật đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập là Sắc lệnh số 29/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 12/3/1947, trong đó HĐLĐ có tên “khế ước làm công”. Kể từ đó đến nay, HĐLĐ luôn được điều chỉnh trong các văn bản quy phạm pháp luật.

Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 (BLLĐ) quy định: Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.

Như vậy có thể thấy rằng khi xem xét một hợp đồng có phải HĐLĐ không thì cần xem xét ở nội dung bản chất của hợp đồng mà không chỉ là tên gọi của hợp đồng.
Một lưu ý khác được quy định trong BLLĐ đó là: Trrước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

Đặc điểm của hợp đồng lao động

HĐLĐ là một loại hợp đồng, do vậy nó mang những đặc điểm chung của hợp đồng, đó là kết quả của sự tự do thoả thuận trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng của các chủ thể. Bên cạnh đó, HĐLĐ có đối tượng là một loại hàng hoá đặc biệt – sức lao động, do vậy HĐLĐ còn mang những đặc điểm riêng sau đây:

  • Tính lệ lệ thuộc về mặt pháp lý của NLĐ và NSDLĐ trong QHLĐ

Có thể thấy rằng trong QHLĐ có sự lệ thuộc về mặt pháp lý của NLĐ vào NSDLĐ, và đây chính là đặc trưng quan trọng của HĐLĐ để phân biệt với những loại hợp đồng khác.

Đối tượng của HĐLĐ là sức lao động trong đó NSDLĐ mua sức lao động về để sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh, do vậy NSDLĐ có quyền quản lý, giám sát, điều hành quá trình lao động của NLĐ.

Hơn nữa, hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày nay hầu như đã mang tính xã hội hóa, do đó đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều khâu, nhiều NLĐ theo một quy tắc, trật tự nhất định thì mới có thể thực hiện được hoạt động này.

Bên cạnh đó, NSDLĐ là người bỏ vốn ra kinh doanh, họ có những quyền tự chủ trong kinh doanh như quyền quyết định việc thu hẹp hay mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, quyết định việc thay đổi địa điểm kinh doanh, thậm chí là quyền chấm dứt hoặc chuyển nhượng hoạt động sản xuất kinh doanh cho người khác.

Để có thể đáp ứng được các nhu cầu trên, NSDLĐ phải có những quyền hành nhất định trong quá trình sử dụng lao động. Do vậy, mặc dù trong QHLĐ, NLĐ là bên yếu thế hơn, nhưng pháp luật vẫn trao cho NSDLĐ những quyền hạn nhất định như quyền điều hành lao động, quyền điều chuyển lao động, quyền đặt ra nội quy lao động buộc NLĐ phải tuân theo, quyền khen thưởng và xử lý kỷ luật lao động,…

  • Đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công

Do tính chất đặc biệt của loại hàng hóa sức lao động, việc biểu hiện ra bên ngoài của quan hệ mua bán loại hàng hóa này không giống như quan hệ mua bán các loại hàng hóa thông thường khác. Sức lao động là một loại hàng hóa trừu tượng và chỉ có thể chuyển giao sang cho “bên mua” thông qua quá trình “bên bán” thực hiện một công việc cụ thể cho “bên mua”. Do vậy, đối tượng mà các bên thỏa thuận trong HĐLĐ biểu hiện ra bên ngoài là công việc phải làm.

Khi các bên thỏa thuận về công việc phải làm, các bên đã tính toán, cân nhắc về sức lao động của NLĐ để có thể đáp ứng các điều kiện thực hiện được công việc đó. Việc làm là điều khoản đầu tiên, quan trọng nhất của HĐLĐ, là lý do để các bên xác lập QHLĐ.

Đặc điểm này còn được sử dụng để xác định tư cách chủ thể của NSDLĐ trong một số QHLĐ nhất định mà ở đó yếu tố quản lý không rõ ràng, ví dụ: trường hợp thuê mướn, sử dụng lao động thông qua cai thầu, trung gian hoặc cho mượn nhân công, …

Trong các trường hợp này, mặc dù người cai thầu, người trung gian hoặc bên mượn nhân công là người trực tiếp sử dụng lao động, trực tiếp quản lý, điều hành NLĐ, nhưng họ không phải là NSDLĐ, người trả tiền công, tiền lương cho NLĐ mới chính là NSDLÐ.

  • Trong quan hệ HĐLĐ, NLĐ phải tự mình thực hiện công việc

Đặc điểm này cũng xuất phát từ tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động. Giá trị của hàng hóa sức lao động bị chi phối trực tiếp bởi các đặc điểm nhân thân của NLĐ, đó là trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo và cả sức khỏe, đạo đức, tính cách, ngoại hình, v.v… của NLĐ.

Đây là các yếu tố mà NSDLĐ xem xét khi giao kết HĐLĐ, hay nói cách khác, cái mà các bên quan tâm trong QHLĐ không những là lao động quá khứ mà còn là lao động sống, tức lao động đang có, lao động diễn ra.

Khi NSDLĐ quyết định “mua sức lao động” của NLĐ nào là muốn sử dụng chính sức lao động của người đó. Do vậy, NLĐ phải tự mình thực hiện công việc như đã giao kết trong HĐLĐ.

Quy định này là nhằm đảm bảo cho NSDLĐ nhận được đúng hàng hóa sức lao động mà họ đã mua. Mặt khác, quá trình thực hiện HĐLĐ còn gắn liền với một số vấn đề liên quan trực tiếp đến nhân thân NLĐ như: BHXH, kỷ luật lao động – trách nhiệm vật chất, các chế độ mà NLĐ được hưởng căn cứ vào thời gian và công sức mà họ đã cống hiến cho NSDLĐ như nghỉ hàng năm, tiền thưởng, v.v.

Bên cạnh đó, đặc điểm này còn xuất phát từ yêu cầu của việc sử dụng lao động là tính bảo mật thông tin trong hoạt động sản xuất kinh doanh và sự an toàn về tài sản cho NSDLÐ.

  • Việc thực hiện HĐLĐ có liên quan đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của NLĐ

Quá trình chuyên giao hàng hóa sức lao động chính là việc NLĐ thực hiện các công việc cụ thể cho NSDLĐ dưới sự quản lý, giám sát, điều hành của NSDLĐ. Quá trình này gắn liền với các vấn đề về nhân thân của NLĐ như tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm.

Chính vì vậy, ngoài hai đối khoản của HĐLĐ là công việc phải làm và tiền công, pháp luật còn buộc các bên phải thỏa thuận về các vấn đề liên quan như: thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, địa điểm làm việc, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội.

Pháp luật bắt buộc các bên phải thỏa thuận những nội dung này là nhằm đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho NLĐ. Cũng chính vì đặc điểm này mà pháp luật còn quy định một nghĩa vụ đương nhiên của NSDLĐ là tôn trọng danh dự, nhân phẩm và đối xử đúng đắn với NLĐ.

  • HĐLĐ phải được thực hiện một cách liên tục

Khi giao kết HĐLĐ, các bên thỏa thuận về thời hạn của hợp đồng, thời giờ làm việc của NLĐ. Trong thời gian HĐLĐ có hiệu lực, NLĐ phải thực hiện nghĩa vụ lao động một cách liên tục theo thời giờ làm việc đã thỏa thuận trong HĐLĐ, thoả ước lao động tập thể (nếu có) và được quy định trong nội quy lao động.

HĐLĐ chỉ có thể được tạm hoãn trong một số trường hợp do pháp luật quy định hoặc do hai bên thỏa thuận. Đặc điểm này cho phép phân biệt HĐLĐ với các hợp đồng dịch vụ, hợp đồng gia công do Luật Dân sự điều chỉnh. Bên nhận gia công, bên làm dịch vụ có thể tự sắp xếp thời gian làm việc của mình mà không nhất thiết phải làm công việc đó liên tục theo thời gian biểu như trong HĐLĐ.

5/5 - (1 vote)
0965.67.9698