Đương sự trong vụ án hình sự là người tham gia tố tụng có quyền và nghĩa vụ liên quan đến tội phạm xảy ra, tham gia vào vụ án hình sự nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình hoặc chịu nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Căn cứ điểm g Khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về đương sự như sau:
g) Đương sự gồm nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự.
Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại (khoản 1 Điều 63 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015).
Bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (khoản 1 Điều 64 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự (khoản 1 Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015).
Theo đó, đương sự trong tố tụng hình sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ về dân sự bị ảnh hưởng bởi quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Cá nhân có thể tự mình hoặc thông qua người đại điện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể. Đối với đương sự là cơ quan, tổ chức, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ phải thông qua người đại diện.
Tư cách tố tụng của đương sự tồn tại từ khi bắt đầu tham gia vào quá trình giải quyết vụ án cho đến khi giải quyết xong vấn đề dân sự hoặc giải quyết xong vụ án hình sự.
