Theo quy định của Hiến pháp 2013, bào chữa là việc dùng lí lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo. Bào chữa là quyền hiến định của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự.
Đăng ký bào chữa là việc người có khả năng bào chữa được nhờ hoặc được chỉ định thực hiện thủ tục theo quy định của pháp luật với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng nhằm thể hiện việc họ sẽ tham gia tố tụng để bảo vệ cho người bị buộc tội với tư cách là người bào chữa.
Chủ thể đăng ký bào chữa: Là người được người bị buộc tội hoặc người thân thích của người bị buộc tội nhờ thực hiện việc bào chữa hoặc người bào chữa chỉ định, bao gồm luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.
Việc đăng ký bào chữa có thể xuất hiện ở giai đoạn khởi tố (nếu đã có người bị bắt, tạm giữ), giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử.
Căn cứ Điều 78 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về thủ tục đăng ký bào chữa như sau:
Điều 78. Thủ tục đăng ký bào chữa
1. Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng ký bào chữa.
2. Khi đăng ký bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ:
a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sư của người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội;
b) Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội;
c) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;
d) Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực.
3. Trường hợp chỉ định người bào chữa quy định tại Điều 76 của Bộ luật này thì người bào chữa xuất trình các giấy tờ:
a) Luật sư xuất trình Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề hoặc văn bản phân công của Đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề là cá nhân;
b) Bào chữa viên nhân dân xuất trình Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;
c) Trợ giúp viên pháp lý, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý xuất trình Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.
4. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đăng ký bào chữa quy định tại khoản 5 Điều này thì vào sổ đăng ký bào chữa, gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng ký bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu giấy tờ liên quan đến việc đăng ký bào chữa vào hồ sơ vụ án; nếu xét thấy không đủ điều kiện thì từ chối việc đăng ký bào chữa và phải nêu rõ lý do bằng văn bản.
5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối việc đăng ký bào chữa khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này;
b) Người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa từ chối người bào chữa.
6. Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp:
a) Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa;
b) Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa.
7. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc đăng ký bào chữa và thông báo cho người bào chữa, cơ sở giam giữ khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Khi phát hiện người bào chữa thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của Bộ luật này;
b) Vi phạm pháp luật khi tiến hành bào chữa.
Việc người bào chữa tham gia tố tụng nhằm bảo vệ cho người bị buộc tội là một nhu cầu thiết yếu nhằm bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội, bảo vệ sự công bằng, bình đẳng, chính xác, khách quan của vụ án hình sự.
Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội và các quy định của Hiến pháp và pháp luật khẳng định các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người bào chữa thực hiện chức năng bào chữa trong vụ án hình sự.
Như vậy, việc đăng ký bào chữa thể hiện ý chí của người có mong muốn hoặc được chỉ định tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội trong vụ án hình sự. Thông qua đó, việc đăng ký bào chữa khi được chấp thuận sẽ thừa nhận tư cách tham gia tố tụng của người bào chữa, làm phát sinh các quyền (và nghĩa vụ) của người bào chữa trong vụ án hình sự, đồng thời xác định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng, làm cơ sở cho người bào chữa thực hiện các quyền tố tụng của mình trên thực tế.
* Lưu ý: Không phải mọi trường hợp, việc đăng ký bào chữa đều được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chấp nhận.
