Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự là những biện pháp mang tính quyền lực nhà nước, tác động trực tiếp đến một số quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức, được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự do chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với những chủ thể tham gia tố tụng nhất định trong quá trình giải quyết vụ án nhằm thực hiện những nhiệm vụ của tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 126 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về các biện pháp cưỡng chế như sau:
Điều 126. Các biện pháp cưỡng chế
Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.
Các biện pháp cưỡng chế được chủ thể có thẩm quyền áp dụng trên cơ sở quyền lực nhà nước theo đúng trình tự, thủ tục Bộ luật Tố tụng hình sự quy định mà không phụ thuộc vào ý chí hay mong muốn của đối tượng áp dụng.
Việc thi hành biện pháp cưỡng chế của chủ thể có thẩm quyền tác động trực tiếp đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị áp dụng như quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (áp giải, dẫn giải); quyền đối với tài sản (kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án) hay quyền tự do hoạt động kinh doanh của pháp nhân thương mại (tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân thương mại liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại).
Căn cứ vào đối tượng áp dụng, biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được chia thành hai nhóm:
(i) Nhóm biện pháp cưỡng chế đối với cá nhân bao gồm: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản;
(ii) Nhóm biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân bao gồm: kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, tạm đình chỉ có thời hạn hoạt động của pháp nhân liên quan đến hành vi phạm tội của pháp nhân; buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.
Chủ thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Trong đó:
(i) Cá nhân bị áp dụng biện pháp cưỡng chế có thể là người bị buộc tội hoặc cá nhân tham gia tố tụng khác (người làm chứng, người bị hại, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố).
(ii) Pháp nhân thương mại bị buộc tội bị áp dụng biện pháp cưỡng chế là pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại hoặc khi có căn cứ xác định hành vi phạm tội của pháp nhân gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của con người, môi trường hoặc trật tự, an toàn xã hội.
Trong một số trường hợp, biện pháp cưỡng chế phong tỏa tài khoản còn được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức khác nếu có căn cứ xác định số tiền trong tài khoản của họ có liên quan đến hành vi phạm tội đang bị xử lý.
Mục đích của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế hướng đến là để bảo đảm hiệu quả của hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.
(i) Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế như áp giải, dẫn giải đối với một người cụ thể nhằm buộc họ có mặt đúng thời gian, địa điểm đã định để tiến hành hoạt động tố tụng;
(ii) Việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong các vụ án về tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án.
