Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là một trong những trường hợp của biện pháp ngăn chặn bắt người trong tố tụng hình sự mang tính quyền lực nhà nước, tác động trực tiếp đến quyền tự do thân thể và quyền tự do đi lại của con người, do chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo luật định áp dụng đối với bị can, bị cáo trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử với mục đích bắt các đối tượng này đến cơ sở giam giữ để tạm giam nhằm ngăn họ gây khó khăn, cản trở cho quá trình giải quyết vụ án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án.
Căn cứ Điều 113 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về bắt bị can, bị cáo để tạm giam như sau:
Điều 113. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
1. Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Điều tra viên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1a Điều 37 của Bộ luật này. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
c) Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử.
2. Lệnh bắt, quyết định phê chuẩn lệnh, quyết định bắt phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người bị bắt; lý do bắt và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này.
Người thi hành lệnh, quyết định phải đọc lệnh, quyết định; giải thích lệnh, quyết định, quyền và nghĩa vụ của người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt; giao lệnh, quyết định cho người bị bắt.
Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó cư trú phải có đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã và người khác chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi người đó làm việc, học tập phải có đại diện cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập chứng kiến. Khi tiến hành bắt người tại nơi khác phải có sự chứng kiến của đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi tiến hành bắt người.
3. Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã.
Chủ thể bị áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam là cá nhân đã bị khởi tố về hình sự mang tư cách bị buộc tội là bị can, cá nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử mang tư cách bị buộc tội là bị cáo.
Tuy nhiên, không phải cá nhân nào là bị can hoặc bị cáo cũng bị bắt để tạm giam. Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam có mối quan hệ chặt chẽ với biện pháp tạm giam nên căn cứ bắt họ để tạm giam cũng phải dựa trên các trường hợp áp dụng biện pháp tạm giam.
Biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam nhằm thực hiện việc bắt bị can, bị cáo đang được tại ngoại đến cơ sở giam giữ để tạm giam. Khi được áp dụng đúng căn cứ, trình tự, thủ tục thẩm quyền theo luật định, biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam phát huy hiệu quả tích cực trong việc ngăn chặn đối tượng bị áp dụng bỏ trốn, gây khó khăn cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm việc thi hành án.
* Lưu ý: Để bảo đảm quyền con người của bị can, bị cáo, việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam không được thực hiện vào ban đêm (từ 22 giờ đêm hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau).
