Bản án hình sự là văn bản tố tụng do Tòa án nhân danh Nhà nước ban hành trên cơ sở tiến hành xem xét, phân tích, đánh giá toàn bộ nội dung, diễn biến vụ án tại phiên tòa theo quy định pháp luật nhằm xác định bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì là tội gì, quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp và các vấn đề khác có liên quan đến vụ án hình sự.
– Thẩm quyền và thời điểm ra bản án:
(i) Đối với thủ tục xét xử thông thường thì thẩm quyền ra bản án là Hội đồng xét xử. Cụ thể, sau khi kết thúc việc nghị án, Chủ tọa phiên tòa sẽ thay mặt Hội đồng xét xử lập ra bản án, tuy nhiên bản án được lập bởi sự quyết định theo đa số ý kiến của các thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm.
(ii) Đối với vụ án hình sự được xét xử theo thủ tục rút gọn thì thẩm quyền ban hành bản án thuộc về duy nhất Thẩm phán được phân công xét xử. Trình tự, thủ tục phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn được thực hiện theo thủ tục chung nhưng không tiến hành nghị án, vì thế thời điểm lập bản án là sau khi kết thúc thủ tục tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa sẽ xem xét, đánh giá mọi vấn đề của vụ án và ra bản án.
Bản án là văn bản tố tụng được lập theo mẫu hướng dẫn thống nhất của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Bản án là văn bản có giá trị pháp lý quan trọng, vì thế phải phản ánh đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật như phải trình bày đầy đủ việc phạm tội của bị cáo, phân tích những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, xác định bị cáo có phạm tội hay không, nếu có thì tội gì, theo điều khoản nào của Bộ luật Hình sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, ghi nhận các quan điểm của Viện kiểm sát, người bào chữa,… cuối cùng là kết luận của Hội đồng xét xử (hoặc của Thẩm phán được phân công xét xử theo thủ tục rút gọn) thể hiện bằng các quyết định có liên quan đến vụ án và bị cáo.
Bản án phải có đầy đủ chữ ký của các thành viên Hội đồng xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm).
Bản án hình sự là văn bản tố tụng đặc trưng của Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một mặt, thể hiện kết quả của hoạt động xét xử nói riêng đồng thời còn đánh dấu sự kết thúc của quá trình chứng minh, xác định bị cáo không có tội hay có tội theo quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015, xác định trách nhiệm pháp lý của bị cáo với Nhà nước cụ thể hoá bằng hình phạt quy định trong Bộ luật Hình sự 2015, xác định trách nhiệm của bị cáo đối với bị hại và chủ thể khác (nếu có), xác định quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan…
Bản án hình sự khi được ban hành và có hiệu lực pháp luật thì những quyết định trong bản án đưa đến hậu quả pháp lý rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của những bị cáo và những chủ thể khác có liên quan.
Bản án có hiệu lực pháp luật là căn cứ để thi hành án, thông qua đó thể hiện quyền lực nhà nước trong việc đấu tranh, phòng, chống tội phạm, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa được thực hiện nghiêm minh. Bản án hình sự được tuyên đúng chủ thể, đúng tội, đúng pháp luật còn mang ý nghĩa giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm trong đời sống xã hội, tạo lòng tin của quần chúng nhân dân vào công lý và sự quản lý của Nhà nước.
Lưu ý: Bản án sơ thẩm chỉ có hiệu lực pháp luật sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật mà không bị kháng cáo, kháng nghị (ngoại trừ kháng cáo quá hạn hoặc trường hợp bản án, quyết định của Tòa án được thi hành ngay mặc dù vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị). Còn bản án phúc thẩm sẽ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
