Bản kết luận điều tra là văn bản tố tụng do cơ quan có thẩm quyền điều tra ban hành khi kết thúc giai đoạn điều tra dựa trên cơ sở kết quả của quá trình điều tra vụ án hình sự nhằm xác định có hay không có căn cứ xác định tội phạm và chủ thể thực hiện hành vi phạm tội, từ đó kết thúc điều tra đề nghị truy tố hoặc kết thúc điều tra và đình chỉ điều tra.
Căn cứ Điều 232 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định về kết thúc điều tra như sau:
Điều 232. Kết thúc điều tra
1. Khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra.
2. Việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.
3. Bản kết luận điều tra ghi rõ ngày, tháng, năm; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận.
4. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc bản kết luận điều tra kèm theo quyết định đình chỉ điều tra cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp; giao bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can hoặc người đại diện của bị can; gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho người bào chữa; thông báo cho bị hại, đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Bản kết luận điều tra có hai hình thức khác nhau, gồm Bản kết luận điều tra vụ án hình sự trong trường hợp đình chỉ điều tra và Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố.
Điều 233. Kết luận điều tra trong trường hợp đề nghị truy tố
1. Trong trường hợp đề nghị truy tố thì bản kết luận điều tra ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội; chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can; việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng; nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; lý do và căn cứ đề nghị truy tố; tội danh, điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự được áp dụng; những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án.
Bản kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra kết luận; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận điều tra.
2. Cơ quan điều tra có thể kết luận điều tra đề nghị truy tố bị can khi đã có đủ căn cứ và bảo đảm quyền bào chữa cho bị can theo quy định của Bộ luật này trong các trường hợp sau:
a) Bị can trốn hoặc không biết bị can ở đâu và việc truy nà không có kết quả;
b) Bị can đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ các hoạt động điều tra.
3. Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ban hành kết luận điều tra đề nghị truy tố đối với bị can quy định tại khoản 2 Điều này, kết luận điều tra phải được niêm yết nếu không thể giao được cho bị can.
4. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này.
Điều 234. Kết luận điều tra trong trường hợp đình chỉ điều tra
Trong trường hợp đình chỉ điều tra thì bản kết luận điều tra ghi rõ diễn biến sự việc, quá trình điều tra, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra.
Bản kết luận điều tra phải ghi rõ ngày, tháng, năm ra kết luận; họ tên, chức vụ và chữ ký của người ra kết luận điều tra.
Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan.
Bản kết luận điều tra được lập sau khi cơ quan có thẩm quyền điều tra đã hoàn thành xong quá trình điều tra, đủ cơ sở để đề nghị Viện kiểm sát truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra.
Trong trường hợp vụ án được điều tra bổ sung, sau khi kết thúc việc điều tra bổ sung, Cơ quan có thẩm quyền điều tra phải lập bản kết luận điều tra bổ sung.
Bản kết luận điều tra bổ sung là một bộ phận không thể thiếu của quá trình tố tụng tồn tại song song với bản kết luận điều tra ban đầu. Trong trường hợp kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản bản kết luận điều tra trước đó thì Cơ quan có thẩm quyền điều tra phải lập bản kết luận điều tra mới thay thế.
Bản kết luận điều tra thể hiện kết quả của giai đoạn điều tra, được thực hiện theo mẫu hướng dẫn thống nhất do cơ quan có thẩm quyền điều tra ban hành.
Ngoài những quy định về hình thức thì bản kết luận điều tra phải bảo đảm các nội dung bao gồm toàn bộ diễn biến của giai đoạn điều tra, các kết quả của các hoạt động điều tra, các biện pháp tố tụng được áp dụng, quan điểm cuối cùng của cơ quan điều tra về vụ án và những đề xuất của cơ quan điều tra về việc giải quyết vụ án, trong đó vấn đề cốt lõi là xác định có hay không có hành vi phạm tội, tội danh và chủ thể bị đề nghị truy tố, điều, khoản, điểm của Bộ luật Hình sự được áp dụng hoặc căn cứ để đình chỉ điều tra.
