8 ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh theo Luật đầu tư năm 2020

Luật đầu tư năm 2020 có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 quy định 8 ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh căn cứ theo Khoản 1 Điều 6 về “Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh”.

  1. Cấm kinh doanh một số chất ma túy

Pháp luật quy định một số danh mục chất ma túy và tiền chất, trong đó có các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng và được dùng hạn chế, căn cứ Khoản 2 Điều 6 về “Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh”, Luật đầu tư năm 2020; Điều 1 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ “Quy định các Danh mục chất ma túy và tiền chất”, sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 60/2020/NĐ-CP ngày 29/5/2020.

Luật đầu tư quy định cấm đầu tư kinh doanh với danh mục 47 chất ma túy, căn cứ Phụ lục 1 “Các chất ma túy cầm đầu tư kinh doanh”, ban hành kèm theo Luật đầu tư năm 2020 (tăng thêm 2 chất so với Luật đầu tư năm 2014).

Có 9 hành vi liên quan đến ma túy bị nghiêm cấm theo quy định của Luật phòng, chống ma túy, căn cứ Điều 3 Luật phòng, chống ma túy năm 2000 sửa đổi, bổ sung năm 2008.

  1. Cấm kinh doanh một số loại hóa chất, khoáng vật

Các hành vi bị nghiêm cấm đối với các loại hóa chất, khoáng vật được quy định cụ thể gồm 4 nhóm trong Luật hóa chất, căn cứ Điều 7 về “Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hóa chất”, Hóa chất năm 2007 sửa đổi, bổ sung năm 2018 và 14 nhóm trong Luật năng lượng nguyên tử, căn cứ Điều 12 về “Những hành vi bị nghiêm cấm”, Luật năng lượng nguyên tử năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2018.

Luật đầu tư quy định cấm đầu tư kinh doanh đối với 18 loại, nhóm hóa chất, khoáng vật, căn cứ Phụ lục II “Danh mục hóa chất, khoáng vật”, ban hành kèm theo Luật đầu tư năm 2020 (tăng 5 loại, nhóm so với Luật đầu tư năm 2014).

  1. Cấm kinh doanh một số mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã

Các hành vi bị nghiêm cấm đối với động vật, thực vật hoang dã được quy định cụ thể gồm:

  • 9 nhóm trong Luật đa dạng sinh học, căn cứ Điều 7 về “Những hành vi bị nghiêm cấm về đa dạng sinh học”, Luật đa dạng sinh học năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2018.
  • 9 nhóm trong Luật lâm nghiệp, căn cứ Điều 9 về “Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động lâm nghiệp”, Luật lâm nghiệp năm 2017.

Luật đầu tư quy định cấm đầu tư kinh doanh đối với 258 loại thực vật, động vật hoang dã có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên quy định tại Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài thực vật, động vật hoang dã nguy cấp; mẫu vật các loài thực vật rừng, động vật rừng, thủy sản nguy cấp, quý, hiếm Nhóm I có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên, căn cứ Phụ lục III. “Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng, thủy sản nguy cấp, quý, hiếm nhóm I”, ban hành kèm theo Luật đầu tư năm 2020.

Luật đầu tư cũng quy định, việc sản xuất, sử dụng 3 loại sản phẩm nêu trên (chất ma túy; một số loại hóa chất, khoáng vật và một số mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã), trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, y tế, sản xuất dược phẩm, điều tra tội phạm, bảo vệ quốc phòng, an ninh thực hiện theo quy định của Chính phủ, căn cứ Khoản 2 Điều 6 về “Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh”, Luật đầu tư năm 2020; Điều 1 Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ “Quy định các Danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Như vậy, về bản chất, pháp luật không cấm toàn bộ, mà chỉ hạn chế một cách nghiêm ngặt việc sản xuất, sử dụng các loại sản phẩm trên.

  1. Cấm kinh doanh mại dâm

Có 9 hành vi mại dâm bị nghiêm cấm theo Pháp lệnh phòng, chống mại dâm gồm: mua dâm, bán dâm, chứa mại dâm, tổ chức hoạt động mại dâm, cưỡng bức bán dâm, môi giới mại dâm, bảo kê mại dâm, lợi dụng kinh doanh dịch vụ để hoạt động mại dâm, các hành vi khác liên quan đến hoạt động mại dâm theo quy định của pháp luật, căn cứ Điều 4 về “Các hành vi bị nghiêm cấm”, Pháp lệnh phòng, chống mại dâm năm 2003.

  1. Cấm mua, bán người, mô, xác bộ phận cơ thể, bào thai người

Các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực này được quy định cụ thể bao gồm:

  • 10 nhóm trong Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác, căn cứ Điều 11 về “Các hành vi bị nghiêm cấm”, Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006. Luật đầu tư năm 2020 bổ sung thêm việc cấm mua bán “xác và bào thai người” so với Luật đầu tư năm 2014,
  • 12 nhóm trong Luật phòng, chống mua bán người, căn cứ Điều 3 về “Các hành vi bị nghiêm cấm”, Luật phòng, chống mua bán người năm 2011.
  1. Cấm hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người

Đây là hành vi bị cấm theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, căn cứ điểm g Khoản 2 Điều 5 về “Bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình”, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Đồng thời đây cũng là một trong những thực tiễn trái với nhân phẩm của con người căn cứ theo Điều 11 Tuyên bố toàn cầu về Gen người và các quyền của con người đã được Đại hội đồng của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) nhất trí thông qua và tuyên bố tại phiên họp lần thứ 29 ngày 11/11/1997.

  1. Cấm kinh doanh pháo nổ

Tất cả các loại pháo nổ đã bị nghiêm cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ và sử dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam từ ngày 01/01/1995, căn cứ Chỉ thị số 406-TTg ngày 08/8/1994 của Thủ tướng cấm sản xuất, buôn bán và đốt pháo”.

Từ ngày 01/7/2015, “kinh doanh các loại pháo” thuộc ngành, nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật đầu tư năm 2014. Từ ngày 01/01/2017 trở đi, kinh doanh pháo nổ lại bị cấm theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung Điều 6 và Phụ lục 4 về Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu tư năm 2016.

Nếu pháp luật chỉ cấm kinh doanh pháo nổ theo quy định dưới luật thì sẽ không xử lý được về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm theo quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ Điều 190 về “Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm”, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  1. Cấm kinh doanh dịch vụ đòi nợ

Nền kinh tế càng phát triển thì xã hội càng phát sinh thiếu vấn đề phức tạp, đòi hỏi chuyên môn hóa cao trong lao động. Đòi nợ là một nghề khó, một công việc phức tạp, đòi hỏi chuyển môn, kinh nghiệm, kỹ năng nghệ thuật, phương thứ nhất định mà người cho vay, cho nợ, bán chịu hàng hóa sành sỏi cũng không dễ gì có được.

Dịch vụ đòi nợ vốn là một trong những hoạt động rất cần thiết, thậm chí là sự tất yếu giúp cho việc thu hồi nợ trên thực tế, bảo vệ hữu hiệu quyền của chủ nợ và chủ sở hữu, đồng thời thúc đẩy các giao dịch dân sự liên quan đến việc vay, nợ.

Năm 2007, lần đầu tiên pháp luật quy định chính thức về hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ và quy định một số hành vi bị nghiêm cấm đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ như:

“Thực hiện hoặc thông qua người khác thực hiện các hoạt động, hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe nhân phẩm, danh dự, quyền tự do cá nhân, quyền tài sản và các quyền dân sự khác của khách nợ, chủ nợ và tổ chức, cá nhân khác liên quan”, căn cứ Điều 11 về “Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động dịch vụ đòi nợ”, căn cứ Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ “Kinh doanh dịch vụ đòi nợ”.

Trước đó, pháp luật chưa có quy định, hoạt động đòi nợ thuê diễn ra một cách phổ biến. Từ năm 2015 trở đi, kinh doanh dịch vụ đòi nợ được xác định là một trong các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, căn cứ Phụ lục IV “Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện”, ban hành kèm theo Luật đầu tư năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019.

Năm 2020, luật đã cấm dịch vụ đòi nợ vì lý do dễ bị lợi dụng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 6 về “Ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh”, Luật đầu tư năm 2020.

Đây là việc cấm rất thiếu thuyết phục, vì khác với những thứ gây nguy hại trực tiếp như ma túy, bản chất hoạt động đòi nợ thuê là vô hại, chỉ nên cấm việc đòi nợ thuê phạm pháp và xử lý những hành vi biến tướng, lạm dụng, gây nguy hại cho xã hội.

8 ngành, nghề bị cấm đầu tư, kinh doanh nêu trên đồng thời cũng bị cấm đầu tư ra nước ngoài, căn cứ Khoản 1 Điều 53 về “Ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài”, Luật đầu tư năm 2020.

Trong lĩnh vực ngoại thương, năm 2018, có 7 loại hàng hóa bị cấm xuất khẩu, 14 loại hàng hóa bị cấm nhập khẩu, (áp dụng cho hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa mậu dịch, phi mậu dịch; xuất, nhập khẩu hàng hóa tại khu vực biên giới, hàng hóa viện trợ Chính phủ, phi Chính phủ), căn cứ Phụ lục I. “Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu” ban hành kèm theo Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ “Quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý ngoại thương”./.