7 trường hợp trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự

Trên thực tế, không phải tất cả mọi trường hợp nộp đơn khởi kiện đều được Tòa án thụ lý, giải quyết. Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) quy định cụ thể 07 (bảy) trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện vụ án dân sự mà không được chấp nhận thụ lý, giải quyết.

  1. Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của BLTTDS 2015 hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự.

Đối với trường hợp trả lại đơn khởi kiện do người khởi kiện không có quyền khởi kiện được hiểu là người khởi kiện không có quyền, nghĩa vụ gì trong quan hệ pháp luật có tranh chấp  và cũng không thuộc trường hợp được quy định có quyền khởi kiện.

Quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 và được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.

Người khởi kiện không có quyền khởi kiện là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

(1) Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186, Điều 187 BLTTDS 2015.

  1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà mình là người đại diện hợp pháp;
  2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thuộc một trong các chủ thể quy định tại Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là trường hợp người làm đơn khởi kiện không thuộc trường hợp theo quy định của pháp luật có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước.

Ví dụ: Tổ chức A (không phải là tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010) cho rằng Công ty B bán hàng hóa không đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng, công dụng như đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết dẫn đến việc chị C (người tiêu dùng) mua sử dụng bị thiệt hại nên Tổ chức A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty B bồi thường thiệt hại cho chị C. Trường hợp này, Tổ chức A không có quyền khởi kiện vụ án bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định tại khoản 3 Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

(2) Yêu cầu khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân không cần xác minh, thu thập chứng cứ cũng đủ căn cứ kết luận là không có việc quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm hoặc cần bảo vệ.

Ví dụ: Cụ A chết năm 2010, để lại di sản là căn nhà X nhưng không có di chúc và không có thỏa thuận khác. Cụ A có con là ông B (còn sống, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc trường hợp không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015). Trường hợp này, theo quy định của pháp luật về thừa kế thì anh C là con của ông B không có quyền khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ A theo pháp luật.

  1. Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 và được hướng dẫn bởi Điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.

Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó;

Cụ thể, chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật bao gồm:

(1) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật là trường hợp pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật khác có quy định về các điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó.

(2) Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,… thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.

Lưu ý với trường hợp này không  bao gồm trường hợp nộp đơn khởi kiện mà không nộp kèm theo tài liệu chứng cứ.

  1. Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực

Quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015.

Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;

  1. Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của BLTTDS

Quy định tại điểm d Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015.

Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của BLTTDS mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng;

  1.  Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

Quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 và được hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.

Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là trường hợp mà theo quy định của pháp luật thì các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác hoặc đang do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết.

Ví dụ: Theo quy định tại khoản 2 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 thì tranh chấp đất đai mà đối với thửa đất đó cơ quan, tổ chức, cá nhân không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 có quyền lựa chọn Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 để giải quyết tranh chấp. Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân đã nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền và cơ quan đó đang giải quyết tranh chấp thì vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Lưu ý với trường hợp này không bao gồm trường hợp người khởi kiện nộp đơn không đúng Tòa án có thẩm quyền (thẩm quyền theo lãnh thổ hoặc theo phân cấp của Tòa án), với lý do trường hợp này phải thực hiện theo quy định về chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền. Ngoài ra, cần phải hiểu thẩm quyền ở đây là thẩm quyền chung về vụ việc dân sự của Tòa án chứ không phải là thẩm quyền về lãnh thổ hay phân cấp của Tòa án.

  1. Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 193 của BLTTDS 2015

Quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng họ không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, trụ sở mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú làm cho người khởi kiện không biết được nhằm mục đích che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện thì Thẩm phán không trả lại đơn khởi kiện mà xác định người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cố tình giấu địa chỉ và tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.

Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện không ghi đầy đủ, cụ thể hoặc ghi không đúng tên, địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mà không sửa chữa, bổ sung theo yêu cầu của Thẩm phán thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện;

Lưu ý với đơn khởi kiện bị trả lại do người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, nhưng sau đó họ đã làm lại đơn khởi kiện mới đáp ứng đầy đủ các nội dung theo quy định và gửi đơn đến Tòa án. Lúc này, Tòa án phải tiếp tục nhận đơn khởi kiện và cho thụ lý vụ án nếu không thuộc các trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện khác.

Đối với vấn đề đương sự giấu địa chỉ, điều luật đã quy định cụ thể hướng giải quyết nhằm khắc phục bất cập do tình trạng đương sự thay đổi địa chỉ nhưng không thông báo hoặc giấu địa chỉ dẫn đến việc gây khó khăn cho việc khởi kiện của đương sự.

Quy định này được xem như một nguyên tắc bắt buộc cố tình giấu địa chỉ hoặc vi phạm nghĩa vụ về cung cấp địa chỉ phải chịu bất lợi về tố tụng, đồng thời còn đảm bảo quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị cản trở. Đây cũng là điểm mới so với BLTTDS 2004, tạo cơ chế để Tòa án giải quyết tình trạng nói trên.

  1. Người khởi kiện rút đơn khởi kiện

Quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015. Đây là trường hợp khi người khởi kiện rút đơn kiện vụ án dân sự, lúc này Toà án sẽ trả lại đơn khởi kiện.

Căn cứ Khoản 2 Điều 192 BLTTDS 2015, trong các trường hợp trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Thẩm phán phải có văn bản nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp. Đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ mà Thẩm phán trả lại cho người khởi kiện phải được sao chụp và lưu tại Tòa án để làm cơ sở giải quyết khiếu nại, kiến nghị khi có yêu cầu./.