7 căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) quy định các căn cứ để tạm đình chỉ vụ án dân sự.

Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc tạm ngừng việc giải quyết vụ án dân sự khi có các căn cứ do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định cho đến khi lý do của việc tạm ngừng đó không còn.

Theo Điều 214 BLTTDS 2015 thì có 7 căn cứ để tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự:

  1. Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó;
  2. Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật;
  3. Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế;
  4. Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án;
  5. Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án;
  6. Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ;

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cần được các cơ quan hữu quan cung cấp tài liệu, chứng cứ cần thiết để giải quyết vụ án hoặc xác định các cơ quan đó có lưu giữ các tài liệu, chứng cứ mà Tòa án yêu cầu cung cấp hay không.

Tuy nhiên, việc ra quyết định tạm đình chỉ chỉ được thực hiện sau khi Tòa án đã ra văn bản ủy thác về tư pháp hoặc văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu chứng cứ và đã hết thời hạn giải quyết vụ án (thời hạn chuẩn bị xét xử) do BLTTDS quy định.

Tuy nhiên trên thực tế, nhiều cơ quan khi nhận được yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ của Tòa án đã không hợp tác hoặc kéo dài thời gian làm khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Mặc dù đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chưa thể cung cấp chứng cứ, tài liệu cho Tòa án thì Tòa án vẫn phải chờ đợi, nhưng lại thiếu căn cứ để tạm ngừng việc giải quyết vụ án, do đó dẫn đến vụ án bị quá hạn.

  1. Theo quy định tại Điều 41 của Luật phá sản, cụ thể:

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân thụ lý vụ việc phá sản, việc tạm đình chỉ thực hiện nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán được thực hiện như sau:

a. Cơ quan thi hành án dân sự phải tạm đình chỉ thi hành án dân sự về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là người phải thi hành án, trừ bản án, quyết định buộc doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán bồi thường về tính mạng, sức khỏe, danh dự hoặc trả lương cho người lao động. Việc tạm đình chỉ được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

b. Tòa án nhân dân, Trọng tài phải tạm đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động có liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự. Thủ tục tạm đình chỉ được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và pháp luật về trọng tài thương mại.

Tòa án nhân dân phải tách và tạm đình chỉ giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự, hành chính liên quan đến nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự. Thủ tục tách và tạm đình chỉ được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng hành chính;

c. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tạm đình chỉ việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với các chủ nợ có bảo đảm.

So với BLTTDS 2004 thì điều luật 214 BLTTDS 2015 đã bổ sung thêm 2 căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đó là căn cứ (6) và căn cứ (7), việc này là phù hợp với thực tiễn cũng như các quy định pháp lý (Điều 6 BLTTDS 2015).

Tóm lại, việc quy định các căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án giúp Tòa án có căn cứ để xử lý vụ án khi chưa đủ chứng cứ, tài liệu để xem xét, đồng thời hạn chế tình trạng án quá hạn./.