6 dấu hiệu phân biệt tội trộm cắp tài sản và hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm

Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS 2015) quy định chi tiết về tội trộm cắp tài sản, trong đó khoản 1 chỉ ra các dấu hiệu pháp lý và khung hình phạt cơ bản của tội trộm cắp tài sản.

Theo điều luật, hành vi trộm cắp tài sản chỉ cấu thành tội trộm cắp tài sản khi thoả mãn một trong các dấu hiệu sau đây:

  1. Tài sản trộm cắp trị giá từ 02 triệu đồng trở lên;
  2. Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, có thể là hành vi trộm cắp tài sản hoặc hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hoặc hành vi chiếm đoạt khác;
  3. Đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản hoặc về tội được quy định tại Điều 290 (các hành vi chiếm đoạt có sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử) và chưa được xoá án tích;
  4. Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội (gây ra tâm lý lo lắng trong dân cư về an ninh, trật tự, an toàn xã hội);
  5. Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ (như xe máy dùng để chở khách và tiền thu được từ việc chở khách là khoản thu chính của gia đình);
  6. Tài sản là di vật, cổ vật.

Lưu ý: Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên.

Như vậy, căn cứ vào một trong sáu dấu hiệu nêu trên để phân biệt hành vi trộm cắp tài sản cấu thành tội trộm cắp tài sản và xử lý theo quy định của BLHS 2015 hay chỉ là vi phạm không bị xử lý hình sự./.