5 điều kiện kết hôn theo quy định pháp luật (cập nhật mới nhất)

Các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  1. Nam, nữ phải đủ tuổi kết hôn

Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam từ đi 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi đủ tuổi kết hôn”. Pháp luật chỉ quy định độ tuổi tối thiểu nam, nữ được phép kết hôn mà không quy định tuổi tối đa.

Quy định này trước hết xuất phát từ cơ sở khoa học. Các nghiên cứu trong lĩnh vực y học đã chỉ rõ phải đạt đến độ tuổi này nam, nữ mới phát triển hoàn thiện về tâm sinh lý. Do vậy họ có thể sinh ra những đứa con khỏe mạnh về thể chất và trí tuệ.

Đồng thời, họ cũng đủ trưởng thành để thực hiện có nghĩa vụ của người làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ; cùng nhau chia sẻ gánh vác các công việc gia đình…Vì thế, quy định về tuổi kết hôn này góp phần tạo dựng lên những cuộc hôn nhân hạnh phúc và bền vững.

Quy định này còn dựa trên điều kiện kinh tế – xã hội, phong tục, tập quán và truyền thống, văn hóa của dân tộc. Điều này giải thích rõ vì sao tuổi kết hôn trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau.

Quy định về độ tuổi kết hôn tối thiểu đối với nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thể hiện sự thống nhất và đồng bộ với các quy định trong hệ thống pháp luật. Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: nữ từ 18 tuổi trở lên là được phép kết hôn (Khoản 1 Điều 9).

Trong khi đó theo quy định của Bộ luật Dân sự, người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phải là người đủ 18 tuổi. Vì vậy, quy định về độ tuổi kết hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 còn thể hiện sự thống nhất và đồng bộ với các quy định trong hệ thống pháp luật.

Cách tính tuổi: Với quy định về tuổi kết hôn theo pháp luật hiện hành, để tính tuổi kết hôn phải dựa vào cách tính tuổi tròn. Nghĩa là, chỉ coi là đủ tuổi kết hôn khi nam tròn 20 tuổi và nữ phải tròn 18 tuổi. Ví dụ: Nam sinh ngày 1-1-2002 thì đến ngày 1-1-2022 là đủ tuổi kết hôn. Như vậy từ ngày này trở đi, họ mới được phép kết hôn

Trên thực tế, vẫn có những trường hợp nam nữ lấy vợ lấy chồng khi chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật. Hiện tượng này được gọi là tảo hôn. Như vậy cần phải hiểu rằng tảo hôn không chỉ là việc nam nữ kết hôn trước tuổi luật định mà còn bao gồm cả trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng trước tuổi luật định.

Theo điểm b khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “tảo hôn” được xác định là một trong các hành vi bị cấm. Vì vậy, kết hôn trước tuổi luật định sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

  1. Phải có sự tự nguyện của hai bên nam nữ

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” (Điểm b khoản 1 Điều 8).

Tự nguyện trong kết hôn trước hết phải thể hiện bằng ý chí chủ quan của người kết hôn. Hai bên nam, nữ yêu thương nhau và tự mình quyết định xác lập quan hệ hôn nhân nhằm mục đích xây dựng gia đình. Ý chí này của mỗi bên nam, nữ không bị tác động bởi một bên hoặc của người thứ ba.

Tự nguyện kết hôn còn thể hiện bằng dấu hiệu khách quan. Người kết hôn phải bày tỏ mong muốn được kết hôn với nhau trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua hành vi đăng ký kết hôn. Vì thế, khi đăng ký kết hôn yêu cầu có mặt của hai bên nam, nữ.

Quyền kết hôn là quyền gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân. Do vậy việc kết hôn phải do người kết hôn tự nguyện quyết định. Tự nguyện kết hôn là đảm bảo để quan hệ hôn. nhân được xác lập phù hợp với lợi ích của người kết hôn, là cơ sở để xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững.

Vì thế, Luật Hôn nhân và gia đình không quy định việc đại diện trong kết hôn đồng thời cấm hành vi cưỡng ép, lừa dối, cản trở việc kết hôn làm cho việc kết hôn không đảm bảo sự tự nguyện.

  • Cưỡng ép kết hôn: Là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác kết hôn trái với ý muốn của họ. Một số dấu hiệu của hành vi cưỡng ép kết hôn:
  • Uy hiếp về tinh thần: Người thực hiện hành vi đe dọa gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự của người kết hôn làm cho người này rơi vào trạng thái hoảng loạn, lo sợ nên buộc phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Ví dụ, một trong hai bên người kết hôn đe dọa sẽ tiết lộ những thông tin bí mật của người kết hôn nhằm hạ nhục, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người kết hôn làm họ lâm vào trạng thái lo sợ nên phải kết hôn trái với ý muốn của họ.
  • Hành hạ, ngược đãi: Thực hiện các hành vi đối xử một cách tồi tệ đối với người kết hôn, làm cho người kết hôn đau đớn về thể chất lẫn tinh thần đến mức không thể chịu đựng nên quyết định phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Ví dụ, cha mẹ thực hiện hành vi đánh đập, nhiếc móc con khiến con không thể chịu đựng nên phải kết hôn trái với ý muốn.
  • Yêu sách của cải: Yêu sách của cải là việc đòi hỏi về vật chất một cách quá đáng và coi đó là điều kiện để kết hôn. Ví dụ, cha mẹ của người con trai vì tham lợi nên buộc người con trai phải cưới một cô gái có nhiều của hồi môn mặc dù người con trai không mong muốn kết hôn với cô gái đó.

Như vậy, cưỡng ép kết hôn có thể là hành vi của một trong hai bên kết hôn hoặc hành vi của người thứ ba buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Thông thường, người thứ ba thực hiện hành vi cưỡng ép người khác kết hôn trai với ý muốn của họ là những người có mối liên hệ nhất định với người kết hôn.

Ví dụ, giữa người kết hôn với người Thực hiện hành vi cưỡng ép kết hôn có mối liên hệ huyết thống (cha, mẹ, ông, bà, anh, chị, em hay con của người kết hôn…). Người thứ ba cũng có thể là người mà người kết hôn có thuộc trong công tác, ví dụ như giám đốc, thủ trưởng của người kết hôn…

  • Cản trở kết hôn: Cản trở kết hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn.

Như vậy, ngược lại với cưỡng ép kết hôn, cản trở kết hôn chỉ có thể là hành vi của người thứ ba mà không phải là hành vi của chủ thể kết hôn bởi vì bản chất của việc cản trở kết hôn là không cho phép người kết hôn được xác lập quan hệ hôn nhân mặc dù họ có đủ điều kiện kết hôn.

Ví dụ, mặc dù hai người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật nhưng bố mẹ của một trong hai bên đe dọa sẽ từ con nếu như hai người kết hôn với nhau hoặc cố tình thách cưới thật cao khi biết người kia không thể đáp ứng được yêu cầu về lễ vật mà buộc phải từ bỏ việc kết hôn.

  • Lừa dối kết hôn: Lừa dối kết hôn là việc một trong hai người kết hôn đã nói sai sự thật về người đó làm cho người kia lầm tưởng mà kết hôn. Có thể kể đến một số ví dụ về sự lừa dối kết hôn như: một người bị nhiễm HIV hoặc không có khả năng sinh con nhưng lại cố tình che dấu sự thật với bên kia hoặc một người đang có vợ, có chồng nhưng lại nói với bên kia mình là người chưa có vợ hoặc có chồng.

Ngoài các hành vi nói trên, việc kết hôn giả tạo cũng là hành vi bị cấm. Giả tạo kết hôn là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưỡng chế độ ưu đãi của Nhà nước mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình.

Vì vậy, kết hôn giả tạo không phải là tự nguyện kết hôn. Bởi vì tự nguyện kết hôn phải nhằm mục đích xây dựng gia đình.

  1. Người kết hôn không phải là người mất năng lực hành vi dân sự

Điểm c khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 quy định nam, nữ khi kết hôn phải là người không bị mất năng lực hành vi dân sự.

Theo quy định theo khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định.

Như vậy, tại thời điểm kết hôn mà một người có quyết định của Tòa án tuyên bố người đó là người mất năng lực hành vi dân sự thì không đủ điề kiện kết hôn. Quy định này đảm bảo tính logic với quy định về sự tự nguyện kết hôn. Bởi vì, người mất năng lực hành vi dân sự thì không thể tự nguyện bày tỏ ý chí trong việc kết hôn.

Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định cấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự. Vì thế, có quan điểm cho rằng quy định như vậy là không công bằng và mang tính chất phân biệt đối xử với người mất năng lực hành vi dân sự. Do vậy, việc chuyển hóa từ một điều cấm thành, yêu cầu đối với người kết hôn là thể hiện rõ tính nhân văn của điều kiện kết hôn này.

Thực tiễn đời sống hôn nhân và gia đình cho thấy, nhiều trường hợp người mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, tuy nhiên không có yêu cầu Tòa án tuyên người đó là người mất năng lực hành vi dân sự.

Vì thế, họ vẫn đủ điều kiện kết hôn, trong khi đó việc kết hôn này có thể ảnh hưởng đến lợi ích của người kết hôn cũng như gia đình và xã hội. Vì vậy, cần phải có các biện pháp tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật cũng như ý thức tôn trọng quyền tự do kết hôn của cá nhân để mọi người tự giác thực hiện, tránh tình trạng quy định điều kiện chỉ mang tính chất hình thức.

  1. Người kết hôn phải là hai người khác giới tính

Khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 quy định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”. Do vậy, việc kết hôn phải là việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai người khác giới tính.

Điều này có nghĩa, hôn nhân phải là sự kết hợp giữa nam và nữ. Quy định này trước hết tôn trọng quy luật tự nhiên. Mặt khác, trong bối cảnh chung của thế giới cũng như điều kiện thực tế của Việt Nam, việc quy định như vậy là cần thiết và phù hợp nhằm ổn định quan hệ hôn nhân và gia đình.

Thực tế, ở Việt Nam trong những năm gần đây có xuất hiện tình trạng những người cùng giới tính xác lập việc sống chung với nhau. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhưng không cấm hai người cùng giới tính sống chung. Vì vậy, việc sống chung giữa hai người cùng giới tính về nguyên tắc không bị coi là trái pháp luật.

Tuy nhiên, nếu một người đang có vợ, có chồng nhưng lại chung sống với người khác cùng giới tính với mình thì giải quyết như thế nào, trường hợp này có xác định là người đang có vợ, có chồng đã vi phạm quyền và nghĩa vụ giữa vợ, chồng hay không. Đây là vấn đề mà pháp luật hiện hành vẫn còn bỏ ngỏ. Nên chăng sớm có quy định cụ thể về những vấn đề này để bảo vệ quyền lợi cho những người có liên quan, góp phần ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình.

  1. Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn

Pháp luật quy định các trường hợp cấm kết hôn là nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ, một chồng; giữ gìn thuần phong mỹ tục của người Việt Nam đối với đời sống hôn nhân và gia đình, góp phần duy trì và bảo tồn nối giống, thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc kết hôn bị cấm trong các trường hợp sau:

  • Cấm kết hôn giả tạo. Quy định điều cấm thể hiện rõ thái độ của Nhà nước ta trong việc bảo vệ quền tự do kết hôn của cá nhân, góp phần xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, hạnh phúc.
  • Cấm kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng cấm người chưa có vợ, có chồng kết hôn với người vợ, có chồng.
    Người đang có vợ, có chồng là người đang tồn tại mộ quan hệ hôn nhân được Nhà nước thừa nhận. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các trường hợp được coi là đang có vợ, có chồng bao gồm:
  • Người đã kết hôn theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và quan hệ hôn nhận đó vẫn đang tồn tại (chưa chấm dứt hôn nhân do sự kiện ly hôn, hoặc một bên chết hay một bên có quyết định của Tòa án tuyên bố là đã chết);
  • Người sống chung với người khác như vợ chồng từ trước ngày 3/01/1987 và đang chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Theo quy định tại Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Quan hệ hôn nhân và gia đình đa xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết”.

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thị hành Luật này thì đối với trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3/01/1987 không đăng ký kết hôn nhưng tuân thủ các điều kiện kết hôn thì vẫn được thừa nhận là vợ chồng.

Như vậy, chỉ những người chưa có vợ, có chồng hoặc đã có vợ, có chồng nhưng hôn nhân trước đã chấm dứt thì mới được phép kết hôn. Nếu người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác hoặc người chưa có vợ, có chồng mà kết hôn với người đang có vợ hoặc có chồng thì việc kết hôn đó là trái pháp luật.

Quy định điều cấm này nhằm bảo vệ nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng, góp phần xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc. Quy định điều cấm này còn góp phần xóa bỏ chế độ đa thế, giải phóng và nâng cao vị thế của người phụ nữ trong xã hội.

Quy định về cấm kết hôn đối với người đang có vợ, có chồng được dự liệu từ rất sớm (ngay từ đạo luật đầu tiên về hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta – Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, việc cấm kết hôn này đã được ghi nhận).

Từ đó đến nay, trong các văn bản pháp luật về hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ, điều cấm này luôn luôn là một quy định buộc người kết hôn phải tuân thủ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy tình trạng vi phạm điều cấm vẫn còn xảy ra ở nhiều địa phương trên cả nước và ngày một có diễn biến phức tạp hơn.

Điều đáng lo ngại là tình trạng vi phạm ngày một tinh vi hơn, làm ảnh hưởng đáng kể đến quyền lợi của những người có quyền lợi liên quan cũng như tác động không tốt đến đời sống hôn nhân và gia đình.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, tuy nhiên cần phải nhấn mạnh rằng một trong những nguyên nhân đáng kể làm cho tình trạng vi phạm ngày một gia tăng đó chính là việc xử lý tình trạng vi phạm chưa nghiêm minh. phòng ngừa vi phạm kém hiệu quả.

Do vậy, để nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng bảo đảm thì cần phải làm tốt hơn nữa việc kiểm tra các định về điều kiện kết hôn thông qua thủ tục đăng ký kết hô và xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm.

  • Cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.
  • Những người có cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau. Ví dụ như cha mẹ với con, ông bà với các cháu.
  • Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba. Vì vậy, cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời được xác định cụ thể như sau:

Cấm kết hôn giữa anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha, cấm kết hôn giữa bác ruột, chú ruột, cậu ruột với các cháu gái, bác ruột, cô ruột, dì ruột với các cháu trai và cấm kết hôn giữa anh chị em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì với nhau.

Việc cấm kết hôn giữa những người có mối liên hệ huyết hống trong phạm vi trên là hoàn toàn phù hợp. Quy định này góp phần duy trì và bảo tồn nòi giống, giúp gia đình thực hiện tốt chức năng sinh đẻ, nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

Bởi vì, dựa trên kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y học, các nhà khoa học đã chỉ rõ, việc kết hôn gần gũi về huyết thống trong phạm vi trực hệ hoặc ba đời sẽ để lại nhiều di chứng cho thế hệ đời sau. Thế hệ con cái của những cuộc hôn nhân này thường hay mắc các bệnh về nhiễm sắc thể, tỷ lệ tử vong sau sinh cao. Điều này là nguyên nhân làm suy giảm giống nòi, ảnh hưởng đến chất lượng dân số.

Thực tế cho thấy ở Việt Nam hiện nay, việc kết hôn giữa những người có quan hệ gần gũi về huyết thống trong phạm vi luật cấm vẫn còn tiếp diễn ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đáng báo động là tình trạng trên không được ngăn chặn có thể đe dọa dẫn đến sự diệt vong của một số dân tộc hiện đang có số dân dưới 1.000 người.

Thực trạng này có nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là do các hủ tục lạc hậu của đồng bào các dân tộc thiểu số. Vì thế, để giảm thiểu tình trạng này cần phải phát huy tốt hơn nữa việc xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu đối với đời sống hôn nhân và gia đình.

  • Cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Ngoài việc cấm kết hôn giữa những người có quan hệ huyết thống trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là me nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Trái lại với quan điểm cho rằng, việc quy định điều cấm này là không cần thiết, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 vẫn kế thừa và phát triển các quy định về cấm kết hôn đối với những người có mối liên hệ thích thuộc và trực hệ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.

Do đó, ngay cả khi giữa những người có mối liên hệ trực hệ không gắn kết bởi tính huyết thống vẫn bị cấm kết hôn. Đây là quy định điều cấm phù hợp với đạo đức, văn hóa của người Việt Nam.

Do vậy, quy định điều cấm góp phần bảo vệ những nét đẹp mang giá trị văn hoá, truyền thống của người Việt Nam đối với đời sống hôn nhân và gia đình, đồng thời góp phần ổn định các quan hệ hôn nhân và gia đình./.