2 nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động

Pháp luật lao động không quy định về trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng lao động mà chỉ đặt ra khung pháp lý buộc các bên phải tuân theo khi giao kết. Cụ thể, nguyên tắc giao kết hơp đồng lao động được quy định tại Điều 17 Bộ luật Lao động (BLLLĐ) năm 2012 và kế thừa tại Điều 15 BLLĐ năm 2019.

Giao kết hợp đồng lao động

Giao kết hợp đồng lao động(HĐLĐ) được hiểu là quá trình người lao động và người sử dụng lao động bày tỏ ý chí nhằm đi đến việc xác lập quan hệ lao động.

Nguyên tắc giao kết hợp đồng

  1. Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực

Tự nguyện, bình đẳng là nguyên tắc không thể thiếu trong giao kết hợp đồng nói chung, nhằm đảm bảo cho các hợp đồng được xác lập đúng với bản chất của chúng. Trong lĩnh vực lao động, nguyên tắc này còn nhằm đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làm của người lao động và quyền tự do tuyển dụng lao động của người sử dụng lao động.

Về mặt pháp lý, nguyên tắc này được cụ thể hóa tại quy định về nguyên tắc xác lập quan hệ lao động tại khoản 1 Điều 7 BLLĐ năm 2019: “quan hệ lao động giữa người lao động hoặc tập thể lao động với người sử dụng lao động được xác lập qua đối thoại, thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, thiện chí, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của nhau”.

Nguyên tắc tự nguyện đòi hỏi việc giao kết HĐLĐ phải phản ánh đúng ý chí của các bên chủ thể. Cụ thể, việc tham gia vào quan hệ lao động cũng như việc thỏa thuận về các nội dung của quan hệ này phải dựa trên cơ sở tự do ý chí của các bên và do chính các chủ thể đó quyết định. Sự tự do ý chí này chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở bình đẳng giữa các bên.

Yếu tố “bình đẳng” thể hiện địa vị ngang bằng nhau của các bên khi giao kết hợp đồng, người lao động và người sử dụng lao động đều có quyền ngang nhau trong việc đưa ra đề nghị và chấp nhận đề nghị khi giao kết hợp đồng.

Tuy nhiên, trong thực tế, do sự chi phối của cung cầu lao động và thế mạnh kinh tế của người sử dụng lao động, người lao động thường ở vào vị thế yếu hơn khi giao kết HĐLĐ. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến thực tiễn giao kết HĐLĐ hiện nay là, đa số các trường hợp, người lao động thường đồng ý với những điều khoản hợp đồng mà người sử dụng lao động soạn sẵn, chứ không dám đưa ra những đề nghị mới. Tuy nhiên, thực tiễn này không trái với nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng vì việc giao kết HĐLĐ đó là hoàn toàn trên cơ sở tự nguyện của người lao động, không có sự ép buộc nào từ phía người sử dụng lao động.

Thiện chí, hợp tác và trung thực là các nội dung mới được đưa vào nguyên tắc giao kết HĐLĐ. Đây cũng là các yêu cầu cần đặt ra đối với việc giao kết hợp đồng nói chung và trong lĩnh vực HĐLĐ, các yếu tố này lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, một đặc điểm không thể chối cãi của quan hệ lao động là vừa tính thống nhất, vừa mang tính đối kháng về mặt lợi ích.

Nếu việc giao kết HĐLĐ được đặt trên nền tảng của sự thiện chí, hợp tác, trung thực sẽ phát huy tính thống nhất của quan hệ lao động, tạo ra lợi ích cho cả hai bên trong quan hệ lao động; và ngược lại, nếu vi phạm nguyên tắc này, tỉnh đối kháng của quan hệ lao động sẽ phát huy, làm ảnh hưởng đến lợi ích của một trong hai bên hoặc cả hai bên trong

quan hệ đó.

  1. Nguyên tắc tự do giao kết HĐLĐ nhưng không được trải pháp luật, thoả ước lao động tập thể và đạo đức xã hội

Yêu cầu của nguyên tắc này là khi giao kết HĐLĐ, các bên hoàn toàn có quyền tự do thỏa thuận các nội dung của hợp đồng, nhưng các thỏa thuận này không được trái với pháp luật, thoả ước lao động tập thể và đạo đức xã hội.

Không trái với pháp luật và đạo đức xã hội cũng là một nguyên tắc giao kết hợp đồng nói chung. Bản chất của hợp đồng là sự tự do thỏa thuận nhưng sự thỏa thuận này phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Pháp luật đặt ra các giới hạn buộc các bên phải tuân thủ là nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của chính các bên chủ thể và lợi ích chung của xã hội.

Trong giao kết HĐLĐ, nguyên tắc không trái với pháp luật đòi hỏi các thỏa thuận trong hợp đồng không được vi phạm điều cấm của pháp luật, không được thấp hơn những quy định tối thiểu, không được cao hơn các quy định tối đa và không được hạn chế các quyền của người lao động.

Khi giao kết HĐLĐ, ngoài việc tuân theo các quy định pháp luật, các bên còn phải tuân theo các quy định của thoả ước lao động tập thể (nếu có). Thoả ước lao động tập thể được hình thành trên cơ sở ý chí chung của tập thể lao động và người sử dụng lao động hoặc những người sử dụng lao động, nhằm xác lập các điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động áp dụng trong doanh nghiệp.

Thoả ước lao động tập thể có tính bắt buộc chung mà khi giao kết HĐLĐ các bên phải tuân theo. Nguyên tắc không trái với thoả ước lao động tập thể cũng đòi hỏi quyền lợi của người lao động được thỏa thuận trong HĐLĐ không được thấp hơn mức được thỏa thuận trong thỏa ước.

Để bảo vệ quyền có việc làm và quyền tự do việc làm của người lao động, tránh sự lạm dụng từ phía người sử dụng lao động, BLLĐ đã quy định người sử dụng lao động không được thực hiện những hành vi sau khi giao kết và thực hiện HĐLĐ:

  • Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động;
  • Yêu cầu Người Lao Động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện HĐLĐ.

Những quy định này của pháp luật lao động đảm bảo cho người lao động được quyền tự do làm việc cho nhiều người sử dụng lao động, và không bị giới hạn do điều kiện kinh tế của người lao động khi tham gia vào quan hệ lao động khác nhau./.

5/5 - (1 vote)
0965.67.9698